Cây Mã đề

Cây Mã đề


Kỹ sư Hồ Đình Hải
Cập nhật ngày 22/6/2014
                                                                           
Hình cây mã đề

- Tên gọi khác: Mã tiền á, Xa tiền (vị thuốc).
- Tên tiếng Anh: Chinese plantain, obako, arnoglossa
- Tên khoa học: Plantago asiatica L.
- Tên đồng nghĩa:
- Plantago major
- Plantago major subsp. major.

1-Phân loại khoa học (Scientific classification)


Bộ (ordo)
Hoa môi (Lamiales)
Họ (familia)
Mã đề (Plantaginaceae)
Chi (genus)
Mã đề (Plantago)
Loài (species)
Plantago asiatica
Các phân loài (subspecies)
Có nhiều phân loài

- Chi Mã đề (Plantago) là một chi chứa khoảng 200 loài thực vật có kích thước nhỏ, được gọi chung là mã đề. Phần lớn các loài là cây thân thảo, mặc dù có một số ít loài là dạng cây bụi nhỏ, cao tới 60 cm. Lá của chúng không có cuống, nhưng có một phần hẹp gần thân cây, là dạng cuống lá giả. Chúng có 3 hay 5 gân lá song song và tỏa ra ở các phần rộng hơn của phiến lá. Các lá hoặc là rộng hoặc là hẹp bản, phụ thuộc vào từng loài. Các cụm hoa sinh ra ở các cuống thông thường cao 5-40 cm, và có thể là một nón ngắn hay một cành hoa dài, với nhiều hoa nhỏ, được thụ phấn nhờ gió.
- Loài Mã đề (Plantago spp.): Việc phân chia giữa các loài (species), phân loài (subspecies) và giống (varieties) chưa được thống nhất, còn nhiều tranh cải.
Tùy theo quan điểm của các Hệ thống phân loại khác mà Cây mã đề ở Việt Nam có hai cách phân loại khác nhau:
a- Có 2 loài mã đề khác nhau ở Việt Nam:
1- Loài Plantago major (mã đề lớn) chủ yếu được dùng làm rau, được trồng phổ biến.
Trong loài này có 3 phân loài (subspecies) là:
- Plantago major subsp. major.
- Plantago major subsp. intermedia (DC.) Arcang.
- Plantago major subsp. winteri (Wirtg.) W.Ludw.
2- Loài Plantago asiatica (mã đề, mã đề á hay xa tiền) chủ yếu được dùng làm thuốc.
Về tính vị và công dụng dược liệu của hai loài tương tự nhau nhưng ở loài mã đề (lá) lớn có chất lượng kém hơn.
b- Chỉ có 1 loài (species) mã đề ở Việt Nam đó là loài Plantago asiatica với nhiều phân loài (subspecies) khác nhau, phân loài Plantago major subsp. major chính là loài Plantago major (mã đề lớn) nêu trên do quá trình trồng trọt, thuần dưỡng mà thành.

2-Nguồn gốc và phân bố

Hiện nay chưa rõ nguồn gốc phát xuất của Chi Mã đề (Plantago).
Các loài mã đề mọc ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm Châu Mỹ, Châu Á, Úc, New Zealand, Châu Phi  Châu Âu. Nhiều loài trong chi phân bổ rộng khắp thế giới như là một dạng cỏ dại.
Riêng loài Mã đề Plantago asiatica (tên đồng nghĩa: Plantago major subsp. major hay Plantago major ) có nguồn gốc ở vùng  cận nhiệt đới Nam Á, được dùng làm thuốc từ lâu đời ở Trung Quốc , Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.
Ở Việt Nam cây mã đề lá lớn được trồng phổ biến để làm rau và cây mã đề lá nhỏ mọc hoang dại trên khắp cả nước chủ yếu được dùng làm thuốc.

3-Mô tả

- Thân: Mã đề là cây thân thảo, sống lâu năm, tái sinh bằng nhánh và hạt, thân cao khoảng 10-15cm.
- : Lá có cuống dài, hình trứng (ảnh) dài 5-12cm, rộng 3,5 - 8cm, đầu tù, hơi có mũi nhọn. Mã đề rất dễ nhận ra bởi phiến lá hình thìa, đôi khi hình trứng, có gân hình cung dọc theo sống lá và đồng quy ở ngọn và gốc lá. 
- Hoa: Hoa mọc thành bông, có cán dài 10-15 cm, xuất phát từ kẽ lá, hoa dài lưỡng tính, đài 4, xếp cheo, hơi dính ở gốc, tràng màu nâu tồn tại, gồm 4 thùy nằm sen kẽ ở  giữa các lá đài. Nhị 4 chỉ nhị mảnh, dài, 2 lá noãn chứa nhiều tiểu noãn. Mùa hoa nở trong tháng 7-8. Hoa thụ phấn nhờ gió và phát tán bằng hạt.

- Quả: Quả hộp trong chứa nhiều hạt màu nâu đen bóng
- Hạt: Hạt rất nhỏ nhưng có thể thu hoạch và nghiền nát để trích lấy dung dịch keo bột. Một cây có thể sản sinh hàng ngàn hạt, hạt khuyếch tán nhờ gió. 
Cây mã đề được tìm thấy trong nhiều môi trường sống khác nhau, từ những vùng ẩm ướt ở đồng bằng, vùng ven biển cho đến các khu vực bán sơn địa và vùng núi cao. Loài cây này trở thành loài cỏ dại có tính quốc tế, trở thành loài cây xâm nhập nguy hiểm ở một số nước.

4- Thành phần dinh dưỡng

- Trong lá cây Mã đề giàu canxi và các khoáng chất khác, với 100 gram lá chứa một lượng vitamin A tương đương với củ  cà rốt. 
- Toàn thân chứa một glucozit gọi là aucubin hay rinantin còn gọi là  aucubozit. Trong lá có chất nhầy, chất đắng, carotin, vitamin C, vitamin K yếu tố T. Trong hạt chứa chất nhầy, axit plantenolic, adnin và cholin.

5- Công dụng của cây Mã đề

5.1- Lá cây Mã đề được dùng làm rau
+ Ở Việt Nam: Lá cây Mã đề non được dùng làm rau như các loại rau cải khác.
-Lá rau Mã đề non được dùng để ăn sống cùng các loại rau ghém khác, nhất là ăn chung với các loại rau rừng khác.
- Lá rau Mã đề non cũng được dùng để xào, nấu các món canh rau mặn và chay.
Canh mã đề nấu với tôm, thịt ăn rất ngon và có tác dụng giải nhiệt, tiểu tiện dễ dàng. Chú ý, khi ăn uống vị mã đề cần kiêng kị những chất kích thích đưa vào cơ thể gây nóng như: rượu, cà phê, gia vị...
+ Ở nước ngoài: Nhiều nước ở Châu Á và vùng Đông Nam Á khác đều dùng lá cây Mã đề non để làm rau.
- Ở Nhật Bản rau Mã đề được dùng để ăn sống và nấu các món súp hải sản truyền thống.
- Ở Nam Mỹ và người bản địa Bắc Mỹ dùng lá Mã đề non để ăn như món salad xanh và lá già dùng để hầm, nấu với thịt.
5.2- Các bộ phận của cây Mã đề dùng làm thuốc
a-Theo Đông y:
Theo quan điểm của Đông y, cây Mã đề được dùng làm thuốc là cây mọc hoang dại trong tự nhiên, giống cây Mã đề được trồng là giống Mã đề lá lớn có giá trị dược liệu kém hơn các giống Mã đề hoang dại (lá nhỏ) mọc trong môi trường tự nhiên.
Theo Đông y, mã đề có vị ngọt, tính lạnh, đi vào các kinh, can, thận và bàng quang; tác dụng chữa đái rắt, ho lâu ngày, viêm khí quản, tả, lị, nhức mắt, đau mắt đỏ, nước mắt chảy nhiều, lợi tiểu...
Cây mã đề cho các vị thuốc sau:
1. Xa tiền tử: Semen plantaginis là hạt phơi khô hay sấy khô.
2. Mã đề thảo (xa tiền thảo): Herba plantaginis là toàn cây bỏ rễ phơi hay sấy khô.
3. Lá mã đề: Folium plantaginis là lá hay tươi hoặc sấy khô
Trong y học cổ truyền Việt Nam, mã đề được dùng làm thuốc lợi tiểu, chữa một số bệnh về tiết niệu, cầm máu, phù thũng, ho lâu ngày, tiêu chảy, chảy máu cam... 
Tại Ấn Độ, chất nhầy được chiết xuất bằng cách nghiền vỏ hạt của một loài mã đề có tên Plantago ovata để bào chế loại thuốc nhuận tràng được bán như là Isabgol, một loại thuốc nhuận tràng để điều trị chứng đường ruột bất thường và táo bón. Nó cũng được sử dụng trong một số ngũ cốc để điều trị chứng cao cholesterol mức độ nhẹ tới vừa phải cũng như để làm giảm lượng đường trong máu. Nó đã từng được sử dụng trong y học Ayurveda  Unani của người dân bản xứ cho một loạt các vấn đề về ruột, bao gồm táo bón kinh niên, lỵ amip  bệnh tiêu chảy.
Tại Bulgaria, lá của Plantago major được sử dụng làm thuốc để chống nhiễm trùng ở các vết đứt hay vết xước nhờ các tính chất kháng trùng của nó.
Nguồn: Theo GS Đoàn Thị Nhu, Sức Khỏe & Đời Sống .
b- Theo Y học hiện đại:
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng chiết xuất từ dịch cây mã đề có một loạt các hiệu ứng sinh học, bao gồm "hoạt động chữa lành vết thương, chống viêm, giảm đau, chống oxy hóa, kháng sinh yếu, suy giảm miễn dịch điều chế và Chống viêm loét". 
Trong cây mã đề chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao, bao gồm allantoin, aucubin, axit ursolic, flavonoids, và asperuloside. 
Khi ăn lá mã đề, làm tăng bài tiết axit uric từ thận, và có thể hữu ích trong điều trị bệnh gút. 
Các thử nghiệm cho thấy, chất aucubin trong cây mã đề (đặc biệt là phần lá) có tác dụng lợi tiểu, tăng thải trừ urê, axit uric và muối trong nước tiểu, có hữu ích trong điều trị bệnh gút và có thể dùng nó để hỗ trợ điều trị chứng tăng huyết áp bên cạnh các thuốc đặc hiệu. Hạt mã đề được sử dụng trong một số bài thuốc hiệu quả chữa sỏi đường tiết niệu.
Mã đề cũng có tác dụng long đờm và trị ho. Thuốc viên bào chế từ cao mã đề và terpin đã được áp dụng trên lâm sàng, điều trị hiệu quả các bệnh viêm cấp tính đường hô hấp trên, làm nhẹ quá trình cương tụ niêm mạc hô hấp, chữa ho và phục hồi tiếng nói ở bệnh nhân viêm thanh quản cấp. Cao nước mã đề đã được áp dụng cho hơn 200 bệnh nhân viêm amiđan cấp, kết quả 92% khỏi bệnh, 8% đỡ. Tác dụng hạ sốt, phục hồi số lượng bạch cầu và làm hết các triệu chứng tại chỗ của mã đề được đánh giá là tương đương các thuốc kháng khuẩn thường dùng.
Mã đề cũng được sử dụng trong các dược phẩm trị mụn nhọt và bỏng. Thuốc dạng dầu chế từ bột mã đề khi đắp lên mụn nhọt có thể làm mụn đỡ nung mủ và viêm tấy. Còn thuốc mỡ bào chế từ cao đặc mã đề đã được sử dụng để điều trị các ca bỏng 2-45% diện tích da, đạt kết quả tốt. Bệnh nhân cảm thấy mát, dễ chịu, không xót, không nhức buốt, dễ thay bông và bóc gạc. Vết bỏng đỡ nhiễm trùng, ít mủ, giảm mùi hôi thối, lên da non tốt, thịt phát triển đều, không sần sùi. Bệnh nhân giảm được lượng thuốc kháng sinh dùng toàn thân.
Các nghiên cứu cũng cho thấy, chất polysacharid trong hạt mã đề có tác dụng nhuận tràng, trị táo bón mạn tính.
Nguồn: Theo GS Đoàn Thị Nhu, Sức Khỏe & Đời Sống .

6-Một số bài thuốc Đông y từ cây Mã đề

Sau đây là một số bài thuốc cụ thể:
1- Lợi tiểu: Hạt mã đề 10 g, cam thảo 2 g, sắc lấy nước, chia 3 lần uống trong ngày.
2- Chữa tiểu ra máu: Lá mã đề, ích mẫu, mỗi vị 12 g; giã nát, vắt lấy nước cốt uống.
3- Chữa viêm cầu thận cấp tính: Mã đề 16 g, thạch cao 20 g, ma hoàng, bạch truật, đại táo, mỗi vị 12 g; mộc thông 8 g, gừng, cam thảo, quế chi, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.
4- Chữa viêm cầu thận mạn tính: Mã đề 20 g, ý dĩ 16 g, thương truật, phục linh, trạch tả, mỗi vị 12 g; quế chi, hậu phác, mỗi vị 6 g; xuyên tiêu 4 g. Sắc uống ngày một thang.
5- Chữa sỏi niệu: Hạt mã đề 12-40 g, kim tiền thảo 40 g, thạch vĩ 20-40 g, hoạt thạch 20-40 g, tam lăng, ý dĩ, ngưu tất, nga truật, mỗi vị 20 g; chỉ xác, hậu phác, gai bồ kết, hạ khô thảo, bạch chỉ, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.
6- Chữa viêm bàng quang cấp tính: Mã đề 16 g, hoàng bá, hoàng liên, phục linh, rễ cỏ tranh, mỗi vị 12 g; trư linh, mộc thông, hoạt thạch, bán hạ chế, mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.
7- Chữa ho, tiêu đờm: Mã đề 10 g, cát cánh, cam thảo mỗi vị 2 g. Sắc uống ngày một thang.
8- Chữa lỵ: Mã đề, dây mơ lông, cỏ seo gà mỗi vị 20 g. Sắc uống ngày một thang.
9- Chữa tiêu chảy: Mã đề tươi 1-2 nắm, rau má tươi 1 nắm, cỏ nhọ nồi tươi 1 nắm. Sắc đặc, uống ngày một thang.
10- Chữa tiêu chảy mạn tính: Hạt mã đề 8 g, cát căn, rau má, đẳng sâm, cam thảo dây mỗi vị 12 g, cúc hoa 8 g. Sắc uống ngày một thang. 
Nguồn: Theo GS Đoàn Thị Nhu, Sức Khỏe & Đời Sống.

Kỹ sư Hồ Đình Hải
Tài liệu tham khảo

Cây khế tàu

CÂY KHẾ TÀU


Kỹ sư Hồ Đình Hải
Cập nhật ngày 21/5/2014

Cây khế tàu

1-Tên gọi và danh pháp khoa học

-Tên thường gọi: Khế tàu
-Tên gọi khác: Cây khế dưa
-Tên tiếng Anh: Bilimbi, Cucumber tree, Tree sorrel
-Tên khoa học: Averrhoa bilimbi L.
-Tên đồng nghĩa:
Averrhoa abtusangulata Stokes
Averrhoa obtusangula Stokes
-Loài tương cận: Khế thường (Averrhoa carambola)

2-Phân loại khoa học


Bộ (ordo)
Chua me đất (Oxalidales)
Họ (familia)
Chua me đất (Oxalidaceae)
Chi (genus)
Loài (species)
Averrhoa bilimbi

3-Nguồn gốc và phân bố

Chi Khế (Averrhoa) có nguồn gốc vùng Châu Á nhiệt đới với khoảng 10 loài, trong đó có hai loài có quả ăn được quan trọng là:
-Khế thường: Averrhoa carambola (gồm các giống Khế chua và Khế ngọt).
-Khế tàu (Averrhoa bilimbi).
Chi này có danh pháp theo tên của Averroes, một nhà triết học và thiên văn học thế kỷ 12 từ Al-Andalus.
Cây khế tàu (Averrhoa bilimbi) không rõ nguồn gốc xuất xứ, nhưng chúng mọc hoang dại ở các Quốc đảo thuộc Đông Nam Á.
Có giả thuyết cho rằng nguồn gốc của cây Khế tàu ở đảo Moluccas (thuộc Indonesia). Loài đang canh tác được tìm thấy ở các nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Sri Lanka, Bangladesh, Maldives, Myanmar (Miến Điện), Nam Trung Quốc và Miền Bắc Việt Nam. Đây là loài cây mọc hoang và được trồng phổ biến ở các nước Đông Nam Á . Ở Ấn Độ, cây Khế tàu cũng thường được tìm thấy mọc hoang trong các khu rừng nóng ẩm và được trồng trong các vườn cây.
Bên ngoài Châu Á, cây Khế tàu được trồng ở Zanzibar. Năm 1793, cây khế tàu được giới thiệu với Jamaica từ Timor và sau nhiều năm, được trồng khắp miền Trung Nam Mỹ nơi nó được gọi là mimbro. Nó cũng được giới thiệu đến Queensland (Úc) vào cuối  thế kỷ 19, từ đó nó đã được phát triển thương mại ở Úc.
Khế tàu thực chất là loài cây vùng nhiệt đới, ít chịu lạnh hơn so với khế thường, chúng phát triển tốt trên đất giàu dinh dưỡng và thoát nước tốt, nhưng cũng sống được trên đất đá vôi và đất cát.
Loài cây này cũng được giới thiệu trồng ở bang Florida của Mỹ để làm cây cảnh, tuy nhiên cần phải che chắn bảo vệ trong mùa lạnh.
Ở Việt Nam tên gọi cây Khế tàu là do ta du nhập từ Miền Nam Trung Quốc về trồng ở các tỉnh Miền núi Phía Bắc, gọi là Khế tàu để phân biệt với Khế ta.
Về sau này cây khế tàu cũng được đem trồng rải rác ở Trung Bộ và nam Bộ chủ yếu để làm cây cảnh vì quả của nó không cạnh tranh lại với quả cây me và quả cây khế chua dùng trong ẩm thực.

4-Mô tả

Khế tàu là loài cây thân gổ tiểu mộc, lá thường xanh, thân cao 5-10 mét.
-Thân: Thân chính mọc thẳng đứng, phân nhiều nhánh, mang quả trên cả thân chính và nhánh.
-: kép lẽ dài 30 - 60 cm, trông giống lá chùm ruột, do nhiều lá phụ 21 - 45, lá phụ tròn dài thon hình mũi mác, có ít lông ở mặt dưới, cuống phụ rất ngắn, mọc xen, phần dưới tròn, phần trên nhọn ở đỉnh.
-Hoa: Chùm hoa tụ tán, gắn liền trực tiếp trên thân hay nhánh già, cọng có đốt.
Hoa, lưỡng tính, màu đỏ đậm, dài 5 - 7 mm, tiền khai vặn, 5 đài, 5 cánh hoa màu xanh vàng hay tím có vết đỏ đậm, tiểu nhụy không đều, 5 dài 5 ngắn, bầu noãn 5 buồng, 5 vòi nhụy. Hợp thành cụm hoa gắn liền vào thân hay những nhánh già tạo thành những cụm trái rất kỳ lạ.
-Quả: Phì quả dài 5 - 10 cm, có cạnh tà, xanh vàng, nạt rất chua, hình trụ dài, cuối cùng ở ngọn còn lại 5 sợi nhỏ là vết để lại của 5 cánh hoa.
Quả dòn khi còn non xanh sau dần chuyển thành xanh vàng, ngà voi hoặc gần như trắng, khi chín và rơi xuống đất. Vỏ ngoài láng sáng bóng, mỏng, mềm dịu và thịt màu xanh lá cây giống như thạch, thịt quả có vị rất chua, chủ yếu được dùng để nấu canh chua, làm vị chua cho nộm, gỏi.
-Hạt: hình đĩa khoảng 6 mm rộng, màu nâu.

Các bộ phận của cây Khế tàu

Chùm hoa và quả non cây Khế tàu

Chùm quả cây Khế tàu

5-Thành phần dinh dưỡng

Trong 100 g phần ăn được của quả Khế tàu chín có thành phần dinh dưỡng như sau:
Độ ẩm: 94,2-94,7 g
Protein: 0,61 g
Tro: 0,31-0,40 g
Chất xơ: 0.6g
Phospho: 11,1 mg
Canxi: 3,4 mg
Sắt: 1,01 mg
Thiamine: 0.010 mg
Riboflavin: 0,026 mg
Carotene: 0.035 mg
Ascorbic Acid: 15,5 mg
Niacin : 0,302 mg
Nguồn: Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA)
Thành phận hóa học và các hợp chất khác
- saponine,
- tanins,
- glucoside,
- oxalate de calci,
- lưu huỳnh,
- peroxyde,
- và citrate de potassium.
- 2-furaldehyde;
- ascorbic acid;
- butyl-nicotinate;
- hexyl-nicotinate;
- niacin;
- oxalic acid;
- palmitic acid;
- riboflavin;
- thiamine;
- vitamin A
- 62 hợp chất đã được xác định,
- nonanal và (Z)-3-hexénol nhiều nhất
- oxalate de potassium.
- Hợp chất dể bay hơi của quả có 6 mg/kg.
Nguồn: Selon les analyses de fruits étudiés au Nicaragua aux Philippines

6-Công dụng của quả Khế tàu

a-Quả Khế tàu được dùng làm rau chua
Ở Miền Nam Trung Quốc, Miền Bắc Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Philippines và Ấn Độ quả Khế tàu chín được dùng làm rau gia vị để lấy chất chua thay cho me, khế, dứa, cà chua…để dùng trong các món nấu như canh chua, nấu lẫu chua, làm nộm, gỏi...
Ở Philippines và Ấn Độ quả Khế tàu chín được dùng để ăn sống với muối hay quả tươi ngâm muối (như quả có ở Việt nam) được dùng để ăn chơi. Quả Khế tàu xanh cũng được dùng trong món salad rau.
b-Quả Khế tàu làm thực phẩm chế biến
Ở Indonesia bột quả Khế tàu chín dược dùng làm nướt sốt chua thay cho quả cà chua và quả xoài. Những bông hoa Khế tàu đôi khi cũng được bảo quản trong đường để ăn dần.
Ở Ấn Độ quả Khế tàu xanh được dùng để muối dưa chua.
Ở Trung Quốc và nhiều nước Đông Nam Á cũng dùng quả Khế tàu xanh để làm mứt.
Ở nhiều nước Châu Á nước ép quả Khế tàu chín được dùng làm nước giải khát thay cho nước chanh để giải nhiệt mùa hè.
c-Quả Khế tàu được dùng làm thuốc
+Theo Đông y
Ở Trung Quốc, Đông Nam Á và Nam Á quả Khế tàu được dùng làm thuốc là chủ yếu hơn để ăn, ngoài quả nhiều bộ phận khác của cây này cũng được dùng làm thuốc. Cụ thể các bài thuốc dân gian và thuốc nam thông dụng từ cây khế tàu như:
-Vỏ và thân cây Khế tàu: Được dùng để trị bệnh Ho gà, đau răng.
-Lá cây Khế tàu: Được dùng để trị bệnh thấp khớp, nấu tắm cho trẻ em để bớt bệnh vàng da.
-Cành và lá cây Khế tàu: Được dùng để trị bệnh quai bị (sưng hàm).
-Hoa cây Khế tàu: Được dùng để trị ho
-Quả cây Khế tàu: Được dùng để trị huyết áp cao.
Ở Ấn Độ, sử dụng lá, hoa và quả Khế tàu để điều trị bệnh tăng huyết áp và bệnh tiểu đường.
+Theo Tây y
Cho đến hiện nay trong Tây chưa có bằng chứng khoa học nào để xác nhận hiệu quả cho mục đích trị bệnh theo các phương  thuốc đông y nêu trên.
Cảnh báo! Trong Tây y còn cảnh báo rằng trong quả và các bộ phận khác của cây Khế tàu có chứa nhiều chất acid oxalic, khi vào thận acid này dể kết tủa với các kim loại kiềm thổ như Kali, Canci, Magie để tạo thành các muối Oxalate chính là các khối sỏi thận. Có bằng chứng là những người thường xuyên ăn quả hoặc uống nước ép của quả khế tàu có nhiều nguy cơ bị sỏi thận hơn. Do đó không nên dùng thường xuyên quả và nước quả khế tàu, nhất là những người có bệnh sỏi thận!

7-Các bài thuốc nam từ cây Khế tàu:

1-Để chữa trị bệnh ho gà, người ta dùng 10 miếng vỏ cây khế tàu rửa sạch, nghiền nát và thêm vào 2 muỗng canh nước muối mặn. Lọc và uống 2 lần / ngày.
2-Trong trường hợp đau nhiều trong lỗ sâu răng, dùng 5 miếng cây vỏ cây khế tàu nhai với 1 ít muối, kế đó nhồi vào trong lỗ chiếc răng sâu.
3-Để chữa bệnh thấp khớp, dùng 28 gr lá cây khế tàu, 15 hạt tiêu, 10 hạt đinh girofle, tất cả xay nhuyễn mịn. Thêm dấm trắng để có hương vị cho đến khi sền sệt như cháo và thoa lên điểm đau nhạy cảm.
4-Chữa trị bệnh quai bị (gọi là sưng hàm), dùng 10 cành cây và lá khế tàu, thêm vào 4 củ hành tím, nghiền thành bột mịn. Sau đó, đắp hỗn hợp vào chổ đau trên quai hàm.
5-Chữa bệnh ho, trộn một nắm hoa cây khế tàu và nước ép rau má (Centelle asiatica L, Urban.) đã được xay nát, 2 củ hành tím và 1 vỏ quế nhỏ bắng ngón tay. Kế đó đun sôi và lọc nước, bỏ xác. Sau đó uống bằng cách trộn với mật ong 3 lần / ngày.
6- Chữa viêm miệng và tưa lưỡi: Ngâm 40 gr hoa khế tàu trong ½ lít nước đun sôi. Uống như trà 4 ly trà / ngày.
7- Làm hạ huyết áp cao : Đối với những người bị huyết áp cao dùng quả khế tàu chín cắt thành miếng nhỏ đun trong nước sôi rồi lọc bỏ xác, uống nước khế sau cử ăn sáng mổi ngày.
8-Đối với những em bé, bị vàng da, tắm với nước nấu cây khế tàu, để giảm bớt.

Kỹ sư Hồ Đình Hải

Tài liệu tham khảo

Xem Video: Hình ảnh cây Khế tàu