Rau dệu


RAU DỆU

-Tên gọi khác: Rau diệu, Dệu không cuống, Rau diếp bò.
-Tên Tiếng Anh: sessile joyweed , dwarf copperleaf.
-Tên khoa học: Alternanthera sessilis.
-Tên đồng nghĩa: A. repens, A. Glabra, Gomphrena sessilis.


Phân loại khoa học

Bộ (ordo):
Cẩm chướng (Caryophyllales).
Họ (familia):
Dền (Amaranthaceae).
Phân họ (subfamilia):
Phân họ Rau dệu (Gomphrenoides).
Chi (genus):
Tên đầ đủ:
Alternanthera sessilis

Phân bố

Họ Dền (Amaranthaceae) có nguồn gốc ở Nam và Trung Mỹ, được phân bố trên các vùng nhiệt đới và ôn đới khắp thế giới khoảng 160-174 chi với khoảng 2.050-2.500 loài khác nhau. Phần lớn là loài cây thân thảo hay cây bụi nhỏ, rất ít loài là cây thân gổ hay dây leo.
Cây rau dệu có tên khoa học Alternanthera sessilis, thuộc Họ rau dền (Amaranthaceae). Phân bố khắp nơi trên thế giới và Đông Nam Á, là cây mọc hoang rất phổ biến ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Inđônêxia và các tỉnh miền Nam Trung Quốc, vv.
Có một loại dệu nước có tên Alternanthera philosciroides có hình dáng tương tự chỉ khác là lá và thân trơn nhẵn, thân rỗng. Cây này cũng được dùng trong trị bệnh tương tự cây rau dệu Rau dệu thường mọc hoang nơi đất ẩm ven suối bờ mương ven sông dùng ngọn và lá non luộc ăn hoặc nấu canh cá thịt
Rau dệu thích sống nơi đất ẩm, dọc theo mương, đất bỏ hoang. Cây mọc nơi đất ẩm bờ hồ, đầm lầy, kên mương thủy lợi, nơi rừng trảng vùng nhiệt đới tới 1200 m độ cao.
Có một loại dệu nước có tên Alternanthera philosciroides có hình dáng tương tự chỉ khác là lá và thân trơn nhẵn, thân rỗng. Cây này cũng được dùng trong trị bệnh tương tự cây rau dệu Rau dệu thường mọc hoang nơi đất ẩm ven suối bờ mương ven sông dùng ngọn và lá non luộc ăn hoặc nấu canh cá thịt
Ở Việt Nam, rau dệu mọc hoang quanh năm ở các bãi sông, bờ ao, ruộng có  nước, ven đường nơi ẩm và sáng. Ngọn và lá non có thể dùng làm rau cho người, toàn cây làm rau cho lợn.

Mô tả

Cây rau dệu phát tán bằng hạt hoặc bằng cách chia nhánh. Nhiều nhánh phủ thành đốt bò trên mặt đất.
-Thân: Là loại cây thân thảo thấp, thân thường màu tím hoặc tím rất nhạt khi mọc dưới tán cây khác. Cây mọc bò lan trên đất dài tới 5m, nên còn có tên gọi là diếp bò, trên thân mang những đoạn cành 40-50cm. Những cành sát mặt đất thì rễ mọc ra từ các đốt và cứ thế vươn dài ra.Cây mọc đa niên, yếu, tròn, dầy, lóng trơn mang hai hàng lông trắng đối diện.
-Rể :rể có nhiều cấp, mọc cạn.
-Lá : Có phiến đơn, mọc đối, có hoặc không có cuống lá 1,5- 5 mm, phiến lá hình mũi mác nhọn 2 đầu dài 4-6cm rộng 1- 2cm, mép nguyên, Phiến lá hơi nhám.
 -Hoa : Phát hoa mọc thành chùm ở nách lá, phiến hoa trắng, lưỡng tính, không cuống, 1 gân, tiểu nhụy thụ 3 xen với tiểu nhụy lép dạng phiến lõm. Hoa trổ vào tháng 11 và 12, đậu quả vào tháng 6 đến tháng giêng.
-Quả: quả bế, hình tim ngược hay dạng thấu kính.
-Hạt: quả chứa một hạt màu nâu.
Cây rau dệu được dùng làm thức ăn gia súc, dùng làm rau ăn và dùng làm thuốc.

Thành phần hóa học

-Theo tài liệu của Ấn Độ

Trong 100 gam lá tươi của rau dệu chứa: 80 g nước, năng lượng 251 kJ (60 kcal), protein 4,7 g, chất béo 0,8 g, carbohydrate 11,8 g, chất xơ 2,1 g, Ca 146 mg, P 45 mg , Sắt 16,7 mg (Leung, W . TW, Busson, F. & Jardin, C., 1968).
Ngoài ra còn có các chất có hoạt tính sinh học cao như:
+Lá chứa lượng lớn alpha và bêta tocophénols.
+Thân và lá chứa:
-Stigmastérol,
-Bétasitostérol,
-Một hydrocarbure aliphatique bảo hòa và ester aliphatique.
-α-spinastérol triterpènes.
-β-spinastérol.
-acide oleanotic và dẫn xuất của nó.
-chất aliphatique bảo hòa (aliphatique).
-những chất esters.

-Theo Viện Y học cổ truyền Việt Nam

Trong các ngọn non theo tỷ lệ % có: nước 80,3, protid 4,5, glucid 1,9, cellulose 2,1, khoáng toàn phần 2,2, calcium 98mg%, phosphor 22mg%, sắt 12mg%, caroten 5,1mg% và vitamin C 77,7mg%.

Công dụng của rau dệu

a-Rau dệu được dùng làm rau
1-Rau diệu luộc : Thân và lá non của rau dệu dùng làm rau luộc.
2-Rau dệu xào : Thân và lá non của rau dệu dùng làm rau xào với thịt, trứng.
3-Rau dệu nấu canh : Rau dệu nấu canh với cá đồng, thị bầm, nấm ăn rất bổ dưởng.
b-Rau dệu sử dụng làm thức ăn chăn nuôi
1-Làm thức ăn cho cá: Thân lá tươi của cây rau dệu làm thức ăn cho cá mè, trắm cỏ, rô phi rất tốt.
2-Làm thức ăn cho gà, vịt: Thân lá tươi của cây rau dệu để nguyên hoặc xắt nhuyễn làm thức ăn cho gà, vịt, ngan, ngỗng rất tốt.
c-Rau dệu sử dụng làm thuốc
+Tại Ấn Độ
Theo thuyết y học Ayurvéda của Án độ (về những yếu tố vận chuyễn điều hành trong cơ thể con người) thì rau dệu trị được những căn bệnh về cảm giác, da, tiêu chảy, khó tiêu, bệnh trĩ, gan và sốt, lợi sữa, lợi mật và hạ nhiệt.
Thực nghiệm ở Ấn Độ cho biết bột nhão của lá rau dệu biểu hiện sự ức chế những đột biến các chủng vi trùng salmonella typhimurium .Ức chế sự hình thành của chất nitrosodiethanolamine là chất gây bệnh ung thư mạnh từ môi trường do tiền chất triethanolamine gây ra.
Dung dịch trích từ rượu của toàn cây rau dệu cho thấy sự hiện diện những hoạt động giãm nhiệt và chất histamine của sự dị ứng và thư giản cơ trơn.
Chất trích ester cho thấy hoạt chất của rau dệu có đặc tính trị liệu chống ung bướu.
Các lá có chứa chất xơ thực phẫm (khoảng 12 g /100g trọng lượng khô) và kết hợp khoảng 75 g chất xơ thực vật trong chế độ ăn kiêng hằng ngày của người bị bệnh tiểu đường, kết quả giãm đáng kể lượng đường máu sau khi ăn.
+Tại Indonesia
Rau dệu được dùng như một phương thuốc giãm đau đường ruột, tiêu chảy và bệnh lỵ. Khi sử dụng bên ngoài để trị giãm sốt.
+Tại Mả Lai
Dùng để chống viêm sốt. Sử dụng ngoài để điều trị vết thương.
+Tại Việt Nam
           Theo y học cổ truyền Việt Nam Rau dệu có vị ngọt và nhạt, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, lọc máu, lợi tiểu, chống ngứa, hạ nhiệt, tiêu sưng.
Ngoài ra người ta còn dùng đọt non làm rau xanh luộc như rau dền. Dân quê thường nấu chung với những rau khác gọi là canh tập tàng chỉ nêm mà không dùng những rau mùi như hành ngò ….luôn giữ hương vị ngọt và mát của rau .

Một số bài thuốc từ cây rau dệu

1-Bài thuốc chỉ định và phối hợp: Thường dùng để trị các bệnh sau đây :
1.Trị bệnh đường hô hấp và khái huyết, viêm hầu;
2.Chảy máu cam, ỉa ra máu;
3.Đau ruột thừa cấp tính, lỵ;
4. Bệnh đường niệu đạo, giảm niệu.
Dùng ngoài trị bệnh viêm mủ da, viêm vú, eczema, bệnh viêm da nổi mẩn, lở chàm, nổi hạch, tràng nhạc hột xoài ở bẹn, rắn cắn.
Nó là vị thuốc nhuận gan, lợi sữa như Rau má lại là vị thuốc chữa lỵ như Rau sam, Cỏ sữa.
Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Hoặc dùng 60-120g rau tươi giã lấy dịch dùng uống. Giã cây tươi để đắp ngoài, hoặc nấu lên lấy nước rửa. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác ( theo Y học cổ truyền Việt Nam).
2-Điều trị Sốt do siêu vi trùng cảm cúm: Rau dệu 100g, Lá tre tươi 100g , Nước 2 lít.Nấu lấy nước cho uống cả ngày. Cả 2 vị này đều dễ tìm và không có độc. Các triệu chứng được cải thiện rất sớm (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
3-Trị Viêm đường tiết niệu:Rau dệu 100g, Rau má 50g, Cam thảo đất 50g, Rau diếp cá 20g, Nấu lấy nước uống (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
4-Trị Viêm gan vàng da : Rau dệu 100g, Cây chó đẻ 50g, Cỏ mực 50g, Củ nghệ 10g ,Nấu lấy nước uống (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
5-Trị chứng hột xoài mới phát: Lấy rau dệu, bèo tía, gừng tươi, lượng 3 thứ như nhau. Rửa sạch, giã nát, cho chút muối, đem sắc kỹ lấy 1 bát uống khi còn nóng, còn bã đắp vào chỗ sưng đau (chú ý trước khi lấy bã đắp cần lấy nước vôi vẽ một vòng quanh chỗ sưng đau để cản không cho độc thoát sang chỗ khác).Rất hiệu nghiệm (Theo Nam Dược thần hiệu).
                                                                                                     Kỹ sư Hồ Đình Hải

Xem video: Thuốc từ rau dệu



Bông so đủa


SO ĐŨA

-Tên gọi khác: Su đũa, điền thanh hoa lớn.
-Tên tiếng Anh: Sesbania, Corkwood Tree, Hummingbird Tree.
-Tên khoa học: Sesbania grandiflora (L.) Poiret.
-Tên đồng nghĩa: Aeschynomene grandiflora.

Bông so đủa trắng

Phân loại thực vật


Bộ (ordo):
Đậu (Fabales).
Họ (familia):
Đậu (Fabaceae).
Phân họ (subfamilia):
Đậu (Faboideae).
Tông (tribus):
Sesbanieae
Chi (genus):
Loài (species):
Sesbania grandiflora (L.) Poiret.

Phân bố

So đũa (danh pháp khoa học: Sesbania grandiflora) là một loài cây thân gổ lớn nhỏ thuộc chi Sesbania trong họ Đậu (Fabaceae). Người ta tin nó có nguồn gốc từ Ấn Độ hay Đông Nam Á và mọc ở những nơi nóng ẩm.
Cây so đủa phân bố nhiều ở các vùng nhiệt đới Châu Á như Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam từ mực nước biển 1- 800 m, cây có thể mọc hoang hoặc trồng theo bờ ruộng, ven đê, ven đường, trong sân, vườn…
Ở Việt Nam cây so đủa phát triển mạnh ở Miền trung trở vào. Ở Nam Bộ cây so đủa mọc hoang hoặc được trồng theo bờ kênh, bờ ruộng, đất vườn.
Ngoài ra cây so đủa còn được trồng ở miền Nam Florida (Mỹ), miền nam Mexico và hầu hết các nước Trung Mỹ đến Nam Mỹ. Để làm nguyên liệu làm bột giấy và trồng nấm (NAS, 1980).

Mô tả

-Thân cây so đũa cao 5-10 m, sống kéo dài 5-10 năm, là cây buội lớn với nhiều cành, lá phát triển. Thân cành của cây so đủa được dùng làm cuổi đun, làm nguyên liệu bột giấy, nguyên liệu để trồng nấm mộc nhĩ, bào ngư..Thân có vỏ dầy, sần sùi và tiết ra mủ đỏ.
-Rể thuộc loại rể cọc, có nhiều rể phụ ăn cạn và rể non có thể được vi khuẩn cộng sinh để tạo nốt sần có khả năng tổng hợp đạm từ không khí.
-Lá kép lông chim, mọc so le, gồm 20-25 đôi lá chét, hình bầu dục thuôn, lá bẹ rụng sớm và lá non mọc nhiều vào đầu mùa mưa.
-Hoa to, mọc thành chùm ngắn có 3-5 cái thõng xuống ở nách lá, dạng hoa môi dài 7-8 cm, màu trắng đôi khi hồng.màu trắng hay hồng (dạng biến thể).
-Quả nang tự khai, dài như quả đậu đũa thót lại ở hai đầu, dài 30-50 cm, dẹt, hơi hẹp lại ở khoảng cách giữa các hạt.
-Hạt hình thận, màu vàng sậm đến nâu.

So đủa hoa tím: dạng biến thể của cây so đủa

Thành phần hóa học

Theo James A. Duke (Ấn Độ)-1983 thì thành phần hóa học của lá và hoa cây so đủa đã trích nước như sau:
Thành phần (100 gam)
Lá trích nước
Hoa trích nước
Calori
Protein
Chất béo
Đường bột
Chất xơ
Tro
Vôi
Lân
Natri
Kali
Thiamine
Riboflavin
Niacin
Vitamin C
Sắt
321 calo
36,3 g
7,5 g
47,1 g
9,7 g
9,2 g
1.648 mg
258 mg
21 mg
2.005 mg
1 mg
1,04 mg
9,17 mg
242 mg
-
345 calo
14,5 g
3,6 g
77,3 g
10,9 g
4,5 g
145 mg
290 mg
291 mg
1400 mg
0,91 mg
0,72 mg
14,54 mg
473 mg
5,4 mg

















Cách sử dụng cây so đủa ở một số nước Châu Á

a-Lá so đủa dùng trong chăn nuôi: Lá so đủa là thức ăn khoái khẩu của loài dê. Lá so đủa tươi còn được dùng làm thức ăn cho cá mè, trắm cỏ, rô phi. Ngoài ra lá so đủa tươi ủ chua làm thức ăn cho bò, heo rất tốt.
b-Lá so đủa dùng để ủ phân xanh: Cành non và lá cây so đủa dùng để ủ phân xanh rất tốt.
c-Thân, nhánh cây so đũa làm cuổi đun: Ở nông thôn còn dùng thân, nhánh cây so đủa để làm cuổi đun.
d-Thân cây so đủa dùng làm nguyên liệu trồng nấm: Thân cây so đủa tươi cưa khúc dùng để trồng nấm mộc nhĩ rất tốt. Hiện nay thân cây so đủa còn được dùng máy băm nhuyễn làm giá thể trồng nấm bào ngư, nấm đông cô rất tốt.
e-Thân cây so đủa dùng làm nguyên liệu bột giấy: Nhiều công ty khai thác gổ so đủa để xay làm bột giấy có chất lượng tốt.
f- Bông so đủa dùng như rau đặc sản cao cấp: Bông so đủa tươi có thể được bóp gỏi để ăn sống, để nấu canh chua hoặc nhúng lẩu ăn rất ngon.
g- Bông so đủa dùng để mưới dưa chua: Bông so đủa tươi phơi héo có thể được dùng để muối dưa rất mau chua và ăn rất ngon.
h-Nhiều bộ phận của cây so đủa được dùng làm thuốc: Ở Việt Nam và một số nước dùng mợt số bộ phận của cây so đủa để làm thuốc…

Các bộ phận cây so đủa dùng làm thuốc

Trong vỏ cây so đủa có chất gôm nhựa, hai chất màu là agathin màu đỏ và xanthoagathin màu vàng. Còn có basorin, một chất nhựa, tanin.
Vỏ cây so đủa có vị đắng, chát; có tác dụng làm thuốc bổ đắng giúp ăn ngon cơm, dễ tiêu hoá. Còn dùng chữa lỵ, ỉa chảy, viêm ruột. Hoa và lá dùng chữa cảm cúm,hạ nhiệt.
Ở Ấn Độ, vỏ cây dùng đun thuốc uống trị đậu mùa, sốt, kiết lỵ, mắt, sốt, đau đầu, bệnh đậu mùa, vết loét và viêm miệng.  (Duke và Wain, 1981).
Nhựa vỏ cây dùng làm thuốc săn da.. Dịch của hoa và của lá so đũa là một vị thuốc dân gian ở Ấn Độ để trị chứng sổ mũi, đau đầu. Khi vào mũi, nó tạo ra sự tiết nhiều dịch và làm tan biến đi cảm giác đau nhức và nặng nề ở trên đỉnh đầu. Nước sắc hoa cũng dùng để tẩy.
Trong y học Vệ đà, lá cây so đũa được sử dụng để điều trị chứng động kinh và các nghiên cứu trên lâm sàng đã chứng minh tác dụng chống co giật của lá so đũa rất hiệu nghiệm.
Người dân Ấn Độ rất tín ngưỡng bông so đũa và xem đấy là đại diện cho thần Siva. Cũng theo y học Vệ đà, trái và hạt so đũa có tính nhuận tràng, kích thích trí tuệ, chống thiếu máu, viêm phế quản, sốt, đau, khát nước, làm giảm kích thước các khối u. 
Hoa dùng để chữa vàng da, viêm phế quản, bệnh gút, phù thũng và sốt cách nhật. Rễ dùng để chữa viêm nhiễm, giun sán, động kinh, ngứa, bệnh phong, bệnh quáng gà.
Nước ép từ lá ngậm trong miệng có tác dụng chống cảm cúm, viêm họng và điều trị lở lóet vòm họng, chữa đau nhức răng
Người Malaysia dùng lá so đũa nghiền nát để chữa bong gân và bầm tím.
Y học cổ truyền ở Philippines dùng so đũa vào việc điều trị viêm loét miệng và là thuốc bổ đắng kích thích tiêu hóa.
Tại Java, người ta dùng so đũa trị nấm và các rối loạn tiêu hóa ở trẻ con. 
Ở Thái Lan, vỏ thân được dùng ngoài trị xuất huyết và làm săn da.
Ở Campuchia, người ta  dùng vỏ cây so đũa chữa bệnh ghẻ ngứa, dùng nước ép lá khử giun, tăng lực, chữa vàng da, sốt, bệnh gút, bệnh phong cùi.

Các bài thuốc từ cây từ cây so đủa:

1-Thuốc bổ đắng dùng để khai vị: Vỏ cây so đũa thái mỏng 100g, ngâm trong 1 lít rượu 40otừ 15 ngày đến 1 tháng, ngày uống 15-30ml làm thuốc bổ đắng, khai vị. Bài thuốc này còn dùng chữa lỵ, ỉa chảy và viêm ruột ( theo bài thuốc dân gian Ấn Độ).
2-Trị cảm cúm: Hoa và lá giã nát, vắt nước nhỏ mũi trị cảm cúm (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
3-Trị bệnh tưa lưỡi: Vỏ thân tươi giã nát lấy nước hoặc nhựa vỏ cây dùng dưới dạng bột hay nước sắc bôi chữa tưa lưỡi (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
4-Chữa nhức răng: Lấy vỏ cây so đũa vạc bỏ lớp da sù sì ở bên ngoài, rồi đem băm nhỏ, bỏ vào nồi hay ấm, thêm một chút nước, nấu sôi lên cho đặc được chừng nào hay chừng ấy. Mỗi lần cần, rót nửa chén cho thêm chút muối ngậm 3-4 lần trong ngày. Nếu răng sưng có mủ, răng lung lay nhức, ngậm chừng 2 ngày thì hết, mỗi lần ngậm lâu chừng 10 phút, nhổ bỏ rồi ngậm tiếp (theo kinh nghiệm nhân dân ở Sóc Trăng).
5-Trị sưng, nhức: Một số nơi dùng bột rễ cây trộn với nước đắp để trị sưng nhức (đặc biệt là chà xát lên nơi khớp viêm sưng), làm giảm đau và hạ sốt (theo DS Lê Kim Phụng).
6-Trị bong gân, bầm tím: Người Malaysia dùng lá so đũa nghiền nát để chữa bong gân và bầm tím.
                                                                                                      Kỹ sư Hồ Đình Hải

Trái ấu


TRÁI ẤU
Thu hoạch trái ấu ở vùng Đồng Tháp Mười

Trái ấu
-Tên gọi khác: Củ ấu, ấu trụi, ấu nước, kỵ thực, năng thực (Trung Quốc).
-Tên tiếng Anh: The water caltrop, water chestnut, buffalo nut, bat nut, devil pod
-Tên khoa học: Trapa natans L. và Trapa bicornis
Phân loại khoa học

Bộ (ordo):
Họ (familia):
Chi (genus):
Loài (species)
Trapa natans L.
Trapa bicornis
Về phân loại khoa học thì cây ấu hiện nay có hai loài:
-Ấu gai (Trapa natans L.).
-Ấu sừng trâu (Trapa bicornis)
Phân bố
Tuy gọi là "củ" đây đúng ra là "quả" vì nó phát triển dưới nước đến khi già thì rụng và vùi xuống bùn nên được gọi là "củ".
Cây Củ ấu gồm vài loài thực vật thuộc chi Trapa. Chúng là cây thủy sinh, bản địa ở miền ôn đới Âu-Á và Phi Châu, thường mọc ở vùng nước đọng không quá 5 m sâu. Loài cây này được thuần hóa để trồng từ hàng ngàn năm trước ở Trung Quốc, ấn Độ và Châu Phi.
 Ở Việt Nam ghi nhận có ít nhất ba loài: ấu trụi (ấu có hai sừng tù, trồng ở Hải Phòng), ấu gai (ấu có hai sừng nhọn, trồng ở Thái Bình), và ấu sừng trâu (trồng ở Phú Thọ, trước đây mọc hoang và hiện nay được trồng ở ĐBSCL).
Mô tả
Cây sống dưới nước; thân ngắn, có lông. Có hai thứ lá: Lá nổi có phao ở cuống, hình quả trám, mép trên có răng cưa, dài 4-5cm, rộng 6-7cm, cuống dài 6-15cm, giữa có phao; lá chìm thì phiến lá giảm, phiến xẻ lông chim nhưng rất nhỏ nên trông chỉ còn có các đường gân. Hoa trắng mọc đơn độc hay ở kẽ lá; 4 lá đài, 4 cánh hoa, 4 nhị, bầu trung 2 ô, mỗi ô chứa một noãn. Quả thường gọi là “củ” có hai sừng, quả cao 35mm, rộng 5cm, sừng dài 2cm, đầu sừng hình mũi tên, sừng do các lá đài phát triển thành. Trong quả chứa một hạt ăn được.
Cây củ ấu được trồng ở các ao đầm khắp nơi trong nước ta. Trồng bằng hạt hay bằng chồi. Mùa hoa ( ở miền Bắc) vào các tháng 5-6; mùa quả vào các tháng 7-9. Quả cũng để ăn, vỏ quả và toàn cây dùng làm thuốc.Dung tươi hay phơi hoặc sấy khô.
Thành phần hóa học
Trong hạt ấu có tinh bột chừng 49%, và chừng 10,3% protit. Ngoài ra còn có Bicornin là một ellagitannin được tìm thấy trong loài Ấu sừng trâu  T. bicornis.
Công dụng
Củ ấu chủ yếu được nhân dân dùng luộc ăn hoặc chế biến thành bột trộn với mật hay đường làm bánh.
Quả sao cháy dùng chữa nhức đầu, choáng váng và cảm sốt. Ngày dùng 3-4 quả dưới dạng thuốc sắc. Vỏ quả sao cho thơm, sắc uống chữa sốt chữa mệt nhọc khi bị sốt rét, còn dùng chưã loét dạ dày, loét cổ tử cung. Toàn cây chữa trẻ con sài đầu, giải độc rượu, làm cho sáng mắt. Ngày dùng từ 10-16g dưới dạng thuốc sắc.  Dùng ngoài không kể liều lượng.
Trong sách Trung Quốc Dược Thảo (xuất bản năm 1694) có chỉ rằng nước nấu từ quả ấu có thể trị giảm sốt và giả rượu.
Ở Ấn Độ, quả ấu khô được người theo đạo Hindu luộc dùng để ăn chay và dùng trong các nghi lễ navratas.
Cây ấu đã được giới thiệu đến Bắc Mỹ vào khoảng năm 1874, và được trồng ở phía đông Hoa Kỳ , nơi mà nó đã trở thành một loài thực vật xâm lấn từ Vermont đến Virginia, hiện nay thuộc liệt vào loài cỏ dại thủy sinh độc hại ở các vùng Florida , North Carolina , và Washington.
Ở Úc , và New South Wales cây ấu gai đã được tuyên bố một loài cỏ dại độc hại.
Trong khi đó loài ấu sừng ở Châu Á gần như bị tiệt chủng do ô nhiểm nguồn nước tự nhiên.
Ẩm thực Việt Nam có một số món dùng củ ấu. Phổ thông nhất là củ ấu luộc, thường dùng làm món quà ăn chơi, nhưng cũng có khi dùng làm lương thực thay cơm vào cuối thu lúc giáp hạt ở Việt Nam. Ngoài ra là các món ba ba hầm củ ấu, giò heo hầm củ ấu, thịt heo quay nấu củ ấu cùng hành gừng. Một số loại chè cũng dùng củ ấu nấu với hạt sen, đường phèn, v.v
Lưu ý!
Trong thân, lá và quả ấu là nơi ký sinh của loài sán lá Fasciolopsis buski (Lankester, 1857). Nếu người và gia súc ăn lá và quả ấu còn sống có thể nhiểm sán lá Fasciolopsiasis qua đường ruột. Vào năm 1902 Odhner đã phát hiện sán lá ruột lớn nhất của con người (lên đến 7,5 cm chiều dài).
Tục ngữ Việt Nam có câu:
Thương nhau củ ấu cũng tròn
Ghét nhau đến quả bồ hòn cũng vuông
hoặc
Ghét nhau quả bồ hòn cũng ngọt.
Đồng dao Việt Nam cũng có nhắc đến "củ ấu có sừng".
Tài liệu tham khảo
2-http://en.wikipedia.org/wiki/Water_caltrop
                                                                                                  Kỹ sư Hồ Đình Hải

Xem video: Về quê thưởng thức quả ấu sừng trâu





Rau trai


RAU TRAI


-Tên gọi khác: Rau trai thường,
-Tên tiếng Anh : Asiatic dayflower.
-Tên khoa học : Commelina communis  L.
-Tên đồng nghĩa :

 Phân loại thực vật

Bộ (ordo):
Thài lài (Commelinales).
Họ (familia):
Thài lài (Commelinaceae).
Phân họ (subfamilia):
Thài lài (Commelinoideae).
Tông (tribus):
Thài lài (Commelineae).
Chi (genus):
Rau trai (Commelina).
Loài (species):
Commelina communis  L.

Phân bố

Chi Thài lài (Commelina) có khoảng 170 loài, thường được gọi là dayflowers (hoa ngàydo cuộc sống ngắn ngũi của hoa của chúng. Đây là một chi xa lớn nhất của họ Thài lài (Commelinaceae).
Các loài trong Chi Thài lài (Commelina ) có thể là cây hàng năm hoặc lâu năm. Chúng được đặc trưng bởi thân lá có nhiều mạch rộng chứa chất lỏng nhầy.
Rau trai Châu Á- Asiatic dayflower hay rau trai thường (Commelina communis  L.) là loài điển hình trong Chi Thài là (Commelina). Nó có nguồn gốc trong phần lớn của Đông Á và các bộ phận phía Bắc của khu vực Đông Nam Á . 
Tại Trung Quốc rau trai được đặt tên là yazhicao “cỏ chân vịt”, tại Nhật Bản tên là tsuyukusa “sương thảo mộc”.
Hiện nay rau trai phân bố khắp Châu Á, Châu Phi và là thực vật xâm lấn phát triển ở một số bộ phận của Châu Âu và khắp miền Đông Bắc Mỹ.
Một vài loài rau trai khác, chẳng hạn như loài rau trai trắng (Commelina benghalensis ), có nguồn gốc Nam Á được người dân ăn như một loại rau ăn lá ở khu vực Đông Nam Á và Châu Phi.
Ở Việt Nam có nhiều loài rau trai mọc hoang dại và chủ yếu là loài rau trai thường (Commelina communis).
Ở Nam Bộ rau trai được dùng làm rau luộc để chấm với nước thịt, cá kho trong bửa cơm đạm bạc ở đồng quê.

Mô tả

Rau trai thường (Commelina communis) là một cây thân thảo hàng năm trong họ rau trai. Loài thực vật này còn có tên là rau trai ăn, rau trai thường, cỏ lài trắng, thuộc họ thài lài.
Rau trai mọc nhiều ở nơi đất ẩm, ruộng vườn của các tỉnh đồng bằng, miền núi.
Cây cao 25-50cm, lông mềm, rễ dạng sợi mọc ở đốt, thân phân nhánh thường ngả xuống, lá thuôn hay hình ngọn giáo, có bẹ ở gốc dài 2-10 cm, rộng 1-2 cm, không cuống.
Cụm hoa xim không cuống, hoa màu xanh lơ có những lá bắc dạng mo bao quanh nom như con trai, trong mỗi mo có 2 hoa. Hoa có 3 lá đài màu xanh và 3 cánh hoa màu xanh lơ. Quả nang thường bao bởi bao hoa, thuôn hay gần hình cầu, có 4 hạt. 
Hoa nở tháng 5-9, quả chín tháng 6-11.

Thành phần hóa học

Thàng phần chất khô rong cây rau trai có 21,15% cellulose, tro 12,8%, protein 7,8 % protein, lipid 0,90 %, các dẫn xuất phi protein 59,75%.
Trong cây có delphin, commelinin, flavocommelin, awobanin. Hạt chứa dầu béo

Cách sử dụng

Ở Nam Bộ cây rau trai là loại cỏ dại trên cạn mọc khắp nơi trên đất có độ ẩm cao và ngay cả dướt tán lá thưa.
Cây rau trai được sử dụng như sau :
a-Rau trai làm thức ăn chăn nuôi :Thân lá rau trai xanh làm thức ăn cho thỏ, dê, lợn, gà, vịt, cá. Thân lá rau trai thái nhỏ được nấu làm thức ăn cho lợn.
b-Rau trai được dùng làm phân xanh: Sau khi vệ sinh cỏ vườn, bơ...thân , lá rau trai được dùng để ủ phân xanh.
c- Rau trai được trồng giữ ẩm trong vườn cây ăn quả : Nhiều nhà vườn trồng rau trai trên mặt líp trong vườn trồng cây ăn quả như cam, xoài riêng... để giữ ẩm và chống xói mòn do mưa.
d- Rau trai được dùng làm rau ăn : Thân và lá non của cây rau trai được dùng làm rau luộc, xào, nấu canh.
e- Rau trai được dùng như bài thuốc: Thân và lá của cây rau trai được dùng trong một số bài thuốc.
Các bài thuốc từ cây rau trai
Theo đông y rau trai có vị ngọt nhạt, tính hơi lạnh, có tác dụng giải nhiệt, kháng sinh, chống viêm, lợi tiểu, tiêu sưng; thường được dùng toàn cây để làm thuốc. Có thể dùng tươi hay khô, được dùng để chữa các bệnh: cảm cúm, nhiễm khuẩn đường hô hấp, viêm họng, viêm amiđan cấp, nhiễm trùng đường tiết niệu, sinh dục, phù thũng.
Sau đây là các bài thuốc từ cây rau trai :
1- Chữa viêm họng, viêm amiđan cấp: Rau trai tươi 30 g sắc uống, ngày 1-2 lần, uống 3-4 ngày; có thể dùng 90-120 g giã nát chắt nước uống hằng ngày (cho thêm một chút muối) (theo BS Huy Tú).
2-Chữa viêm ruột, kiết lỵ: Rau trai tươi 30-40 g sắc uống trong 3-5 ngày(theo BS Huy Tú).
3-Chữa viêm cầu thận cấp, phù thũng, đái ít: Rau trai 30 g, cây cỏ xước 30 g, bông mã đề 30 g. Sắc uống thường xuyên hằng ngày. (theo BS Huy Tú).
4-Chữa phong thấp, viêm khớp, phù tim: Rau trai 40 g thái nhỏ, hạt đậu đỏ 40 g, nấu chín ăn hằng ngày (ăn cả cái lẫn nước) (theo BS Huy Tú).
5.Chữa rắn cắn: Rau Trai 16g rửa sạch, nhai nuốt nước, bã đắp lên chỗ rắn cắn, ngày làm 1-2 lần.
6-Bài thuốc chỉ định và phối hợp: Thường dùng trị:
1.Cảm cúm, viêm nhiễm phần trên đường hô hấp;
2.Viêm amygdal cấp, viêm hầu họng;
3.Phù thũng, nhiễm khuẩn đường niệu và sinh dục;
4.Viêm ruột thừa cấp, kiết lỵ.
Liều dùng 30-40g, dạng thuốc sắc.Dùng ngoài trị viêm mủ da, giải chất độc do rắn rết, bò cạp cắn đốt đau buốt và đầu gối, khớp xương bị sưng đau; lấy cây tươi giã đắp (theo BS Huy Tú).
                                                                                              Kỹ sư Hồ Đình Hải