Hoa thiên lý


Hoa thiên lý


Hoa thiên lý

Chùm hoa thiên lý

-Tên gọi khác: Dạ lý hương, Dạ lài hương.
-Tên tiếng Anh: Tonkin jasmine, pakalana vine, Tonkinese creeper, Chinese violet.
-Tên khoa học: Telosma cordata (Burm.f.) Merr.
-Tên đồng nghĩa:
Asclepias cordata N. L. Burman; 
Cynanchum odoratissimum Loureiro; 
Oxystelma ovatum P. T. Li & S. Z. Huang; 
Pergularia minor Andrews; P. odoratissima (Loureiro) Smith; 
Telosma minor (Andrews) Craib; 
T. odoratissima(Loureiro) Coville.

Phân loại khoa học


Lớp
Thực vật hai lá mầm (Eudicots)
Ngành
Bộ (ordo):
Long đởm (Gentianales)
Họ (familia):
La bố ma (Apocynaceae)
Phân họ (subfamilia):
Bông tai (Asclepiadoideae)
Tông (tribus):
Hàm liên (Marsdenieae)
Chi (genus):
Thiên lý (Telosma)
Loài (species):
Telosma  cordata

Phân bố

Thiên lý (Telosma cordata) là một loài thực vật dạng dây leo. Trong thiên nhiên, thiên lý mọc ở các cánh rừng thưa, nhiều cây bụi. Tuy nhiên, nó được gieo trồng ở nhiều nơi như Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây), Ấn Độ (Kashmir),  Myanma,  Pakistan, Việt Nam; Châu Âu, Bắc  Nam Mỹ.
Trên đảo Hawaii thiên lý có tên là "pakalana" được người dân chuộng vì có hương thơm kết dùng thành tràng hoa đeo cổ, thổ ngữ gọi là "lei".
Tại Việt Nam cây hoa thiên lý được trồng trong vườn để leo thành giàn tạo bóng mát, hưởng hương thơm và nhất là để lấy hoa lẫn lá non nấu ăn. Phổ thông nhất là nấu canh. Vì khá phổ biến ở miền Bắc Việt Nam nên thiên lý còn có tên tiếng Anh là "Tonkin creeper".

Mô tả

-Thân: Thân dài 1–10 m, màu lục ánh vàng, khi non có lông tơ, những đoạn thân của năm trước màu xám nhạt, không lông, thông thường có các mấu xốp nhỏ thưa thớt.
-Rể: Rể chùm, mọc sâu trong đất xốp. Cây già có cuốn rể to, hóa gổ.
-Lá: Cuống lá 1,5–5 cm; phiến lá hình trứng, 4-12 x 3–10 cm, phần gốc lá hình tim với các lõm gian thùy hẹp, nhọn mũi; các gân lá chính 3, gân phụ tới 6 cặp.
-Hoa: Xim hoa kiểu tán (mọc thành chùm), chứa 15-30 hoa; cuống hoa 0,5-1,5 cm, có lông măng. Các lá đài hình mũi mác thuôn dài, có lông măng. Tràng hoa màu xanh lục ánh vàng; ống tràng 6-10 x 4–6 mm, có lông măng bên ngoài, nhiều lông hoặc nhẵn nhụi với phần họng nhiều lông mé trong; các thùy thuôn dài, 6-12 x 3–6 mm, có lông rung. Các thùy của tràng hoa hơi dày, phần gốc hình trứng, nhọn đỉnh, thông thường có khía hay xẻ thùy sâu. Các khối phấn thuôn dài hay dạng thận. Núm nhụy hình đầu.
-Quả: Các quả đại hình mũi mác, 7-13 x 2-3,5 cm, nhẵn nhụi, hơi tù 4 góc.
-Hạt: Các hạt hình trứng rộng bản, khoảng 1 x 1 cm, phẳng, cụt đỉnh, mép có màng; mào lông 3–4 cm. Ra hoa trong khoảng từ tháng 5 tới tháng 10, kết quả trong khoảng tháng 10-12.

Thành phần dinh dưỡng

Hoa thiên lý rất thơm, chứa tinh dầu. Chúng được sử dụng để nấu ăn và trong y học để điều trị viêm màng kết.
Thành phần dinh dưỡng có trong hoa thiên lý như chất xơ là 3%, chất đạm 2,8%, chất bột đường, các vitamin như C, B1, B2, PP, tiền vitamin A (caroten), cùng các khoáng chất cần cho cơ thể như calcium, phospho, sắt, đặc biệt là kẽm (Zn) có hàm lượng khá cao, vì vậy cây thiên lý cả lá non, ngọn và hoa đều có thể sử dụng làm thực phẩm. Hoa thiên lý giàu chất kẽm, rất tốt cho trẻ em đang lớn, không chỉ giúp tăng cường sức đề kháng cửa cơ thể mà còn giúp người già giảm được chứng phì đại tuyến tiền liệt.

Công dụng

a-Dây thiên lý dùng làm cây cảnh

Dàn hoa thiên lý
Do dây leo sống lâu năm, có lá che bóng mát, có hoa thơm, giản dị và tinh khiết nên dây thiên lý được dùng để trồng làm cây cảnh theo hàng rào hoặc làm dàn dây xanh trước sân nhà. Dàn thiên lý đã được mô tả nhiều trong thơ, ca, nhạc và chuyện cổ tích Việt nam.

b-Hoa thiên lý được dùng làm rau cao cấp

+Hoa thiên lý được dùng trong các món xào.
Sau đây là một số món xào từ hoa thiên lý rất ngon và bổ dưỡng:
1-Hoa thiên lý xào trứng & thịt bò:

Hoa thiên lý xào thịt bò
Nguyên liệu: 200 g hoa thiên lý, 200 g thịt bò thăn hoặc bắp, 1 quả trứng gà, 1 củ hành tây.
Cách làm: Hoa thiên lý giữ nguyên chùm, rửa nhẹ tay trong nước lạnh rồi thả nhanh vào nước sôi, vớt ra, dội nước nguội, để ráo. Thịt bò cắt mỏng ngang thớ, ướp muối, tiêu, đường và tỏi giã nhuyễn, ướp 10-15 phút. Củ hành tây lột bỏ vỏ, cắt mỏng dọc múi cam.
Xào thịt bò trên chảo nóng dầu ăn, vừa tái thì thả hành tây vào, trộn đều nhanh tay, vừa chín tái tắt lửa ngay và cho thịt ra tô riêng.
Thiên lý xào chung với trứng gà đã đánh tan trên chảo dầu nóng để lửa nhỏ, chỉ cần 1 phút là vừa ăn. Trộn thiên lý đã xào với thịt bò, dùng nóng.
2-Hoa thiên lý xào sò điệp
Hoa thiên lý xào sò điệp
Nguyên liệu: 200 g hoa thiên lý, 200 g sò điệp, 100 g cà chua bi, 100 g cà rốt, 3 tép tỏi, 1 ít tiêu xay, 1 thìa cà phê hạt nêm, đường, 2 thìa cà phê nước mắm.
Cách làm:
Hoa thiên lý trụng sơ, ngâm nước lạnh, vớt ra, để ráo. Sò điệp trụng chín, tách thịt để riêng. Cà chua bi cắt làm bốn. Cà rốt thái mỏng, trụng sơ. Tỏi thái mỏng.
Đun nóng dầu, cho tỏi vào phi vàng, cho sò điệp vào đảo nhanh tay. Cho cà rốt, cà chua bi vào xào rồi nêm đường, nước mắm, hạt nêm, cho hoa thiên lý vào xốc đều rồi nêm lại lần nữa cho vừa ăn. Cho ra đĩa, rắc tiêu lên trên dùng nóng.
3-Gỏi hoa thiên lý với nghêu và tôm

Hoa thiên lý xào nghêu
Nguyên liệu: 150 g hoa thiên lý, 100 g tôm sú, 200 g nghêu, 3 củ hành tím, 1 trái ớt, 1 thìa canh nước mắm, 2 thìa canh đường, 1 thìa canh nước chanh, 1 thìa canh tương ớt.
Cách làm:
Hoa thiên lý trụng chín, ngâm nước lạnh cho xanh, vớt ra, để ráo. Tôm sú luộc chín, bóc vỏ, lấy bỏ chỉ lưng chẻ đôi. Nghêu hấp chín, tách thịt để riêng. Ởt thái chỉ, hành tím thái lát mỏng.
Cho nước mắm + đường + nước cốt chanh + tương ớt vào chén, khuấy đều làm nước trộn gỏi. Cho thiên lý, tôm, nghêu, ớt vào tô, trộn đều. Đổ nước trộn gỏi vào, dùng đũa trộn đều, nêm lại cho vừa ăn. Món này dùng ngay.
Ngoài ra còn nhiều món xào khác từ hoa thiên lý  với thịt và hải sản rất ngon.

b-Hoa thiên lý dùng để nấu canh và nhúng lẩu

Ngoài các món xào, hoa thiên lý còn được dùng trong các món canh và lẩu.
Sau đây là vài món canh và lẩu điển hình:
1-Canh hoa thiên lý &cua đồng
Nguyên liệu:
150 g cua đồng, 200 g hoa thiên lý, gia vị: muối, bột ngọt, hạt nêm.
Cách làm:
Cua đồng bóc mai, bỏ yếm, rửa sạch, cho vào một thìa muối, xay nhuyễn. Lọc xác cua với nước sạch qua rây từ 3 đến 4 lần, gạn bỏ cấn để làm nước dùng. Lấy gạch cua từ mai cua, cho chút nước vào lọc vài lần để gạn bỏ hoi và chất bẩn. Hoa thiên lý rửa sạch, để ráo.
Đun nước dùng cua, cho thêm 2 muỗng hạt nêm. Khi nước sôi lăn tăn, dùng muỗng khuấy đều theo một chiều để xác cua đông kết tạo thành gạch cua và gạch không bị bám vào đáy nồi và không bị vỡ nát. Nước sôi, cho hoa thiên lý vào nấu chung, đảo nhẹ tay để hoa không bị nát cánh. Khi nước sôi lại là được. Múc ra bát, ăn nóng.
2-Canh giò heo & hoa thiên lý
Đây là một thức ăn ngon và bổ, rất thích hợp trong những bữa cơm mùa hè của chúng ta. Cách chế biến cũng đơn giản, tốt nhất là nấu với nước xương hầm khi nước sôi cho giò sống vào, đợi giò nổi lên là chín, cho tiếp hoa thiên lí, rồi cho gia vị (mắm, muối, hạt tiêu...) đủ dùng.
Canh này ăn ngon ngọt, giầu chất dinh dưỡng, có mùi thơm hoa thiên lí rất quyến rũ, đồng thời được coi là một bài thuốc mát, giải nhiệt, tẩy giun kim thông dụng.
(Theo Văn hóa nghệ thuật ăn uống: http://www.vnnavi.com/news/hoathienly.html).
Bát canh nấu bằng hoa và lá thiên lý non không những có giá trị dinh dưỡng mà còn được coi là một bài thuốc mát và bổ, trừ được giun kim. Có thể nấu canh thiên lý suông, hoặc nấu với giò sống, cua, tôm, thịt nạc đều ngon. 
Ngoài ra hoa thiên lý còn là món rau cao cấp dùng để nhúng các loại lẩu chua, lẩu ngọt.

d- Dây thiên lý dùng làm thuốc

Hoa thiên lý không chỉ là một món ăn mát, bổ mà còn được sử dụng như một vị thuốc chữa bệnh.
Theo Đông y, hoa thiên lý có vị ngọt, tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là một vị thuốc an thần, làm ngủ ngon giấc, tư bổ tâm… 
Ngoài ra hoa thiên lý còn có tác dụng giải nhiệt và trừ giun kim. Nếu không sẵn giò sống và cua, chúng ta có thể nấu canh hoa lý với thịt nạc, tôm cũng giống các loại canh tôm, canh thịt khác. 
Ngoài giá trị làm thức ăn và làm thuốc nói trên, gần đây người ta còn nghiên cứu dùng lá thiên lý chữa trĩ (lòi dom) có kết quả tốt. 
Hoa thiên lý còn tác dụng trợ dương cho nam giới.
Sự có mặt của chất kẽm còn có thể đẩy chì ra khỏi tinh dịch, chữa chứng vô sinh ở nam giới do nhiễm chì…
Chất kẽm trong hoa thiên lý còn có tác dụng đẩy chì ra khỏi tinh dịch, chữa chứng vô sinh ở nam do thường xuyên tiếp xúc với chì hoặc các chất có chì (động cơ chạy xăng pha chì, acca chì…).
Tuy nghiên khi sử dụng hoa thiên lý làm thức ăn, bạn nên chú ý tránh xào nấu chung (hoặc ăn cùng bữa) với các chất giàu sắt như tiết, gan, thịt nạc bò, lợn, rau muống… vì chất sắt sẽ đẩy chất kẽm ra khỏi cơ thể.
Ngoài ra, hoa thiên lý còn tác dụng trợ dương cho nam giới. Sau đây xin giới thiệu cụ thể các phương thuốc từ cây hoa lý để chọn lựa sử dụng sao cho phù hợp và hiệu quả.
Cây thiên lý cả lá non, ngọn và hoa đều là thực phẩm quý có tác dụng bổ dưỡng giúp trẻ chóng lớn, lại giúp người già giảm được chứng phì tuyến tiền liệt, làm tăng cường sức đề kháng. (theo BS. Hương Liên).

Các bài thuốc từ dây thiên lý

1-Chữa trĩ (lòi dom), sa dạ con:Lấy 100g lá thiên lí non và bánh tẻ, rửa sạch, giã nhỏ với 5g muối ăn, thêm 30ml nước cất, lọc qua gạc sạch. Rửa sạch chỗ lòi dom bằng nước pha thuốc tím, lấy bông tẩm nước thiên lí đắp lên. Băng như đóng khố. Ngày làm 1-2 lần. Thường chỉ chữa 4-5 ngày như trên đã thấy có kết quả tốt. Tác dụng co dần phần dom hay dạ con bị lòi ra. (theo BS. Hương Liên).
2-Phòng rôm sảy ngày hè: Hằng ngày nấu canh hoa thiên lý ăn. Với trẻ có thể nghiền lá và hoa thiên lý ra nấu lẫn với bột khi cho trẻ ăn dặm. (theo kinh nghiệm dân gian).
3-Trị giun kim: Theo kinh nghiệm dân gian, lá thiên lý để trị giun kim rất hiệu quả bằng cách dùng 40g lá hoặc hoa nấu canh ăn hàng ngày (dùng 7 ngày trở lên là khỏi).
Hoặc có thể dùng bài thuốc sau:
-Hoa thiên lý : 30 gam.
-Rau sam: 20 gam.
-Lá đinh lăng: 25 gam.
Ba thứ này sắc lấy nước trong ngày, mỗi ngày chia làm 3 lần, uống liên tiếp trong 3 ngày. (Theo Y học cổ truyền Việt nam).
4-Làm giảm đau mình mẩy, nhức xương cốt: Hàng ngày lấy hoa thiên lý xào với thịt bò hoặc chấm với muối vừng ăn sẽ có tác dụng. (theo kinh nghiệm dân gian).
5-Chữa mất ngủ:Hoa thiên lý 30 gam. Hoa nhài 10 gam. Tâm sen 15 gam. Ba thứ sắc chung lấy nước uống trong ngày (dùng từ 3- 5 ngày).
Ngoài ra, canh hoa thiên lý còn có tác dụng mát, bổ và an thần, giúp dễ ngủ, ngủ ngon, bớt mệt mỏi, chữa sốt nhẹ, lao lực. (Theo Y học cổ truyền Việt nam).
6-Chữa đinh nhọt: Lấy lá cây thiên lý 30-50kg giã nhỏ đắp vào chỗ mụn nhọt, ngày thay 1 lần, vài ba ngày sẽ khỏi. (Theo Y học cổ truyền Việt nam).
7-Chữa đái buốt, đái ra máu, đái dắt, cặn trắng: Lấy rễ cây thiên lý từ 10 – 20g, sắc lấy nước uống 2 – 3 lần trong ngày, uống từ 5- 7 ngày, sẽ thấy đỡ hẳn. (Theo Y học cổ truyền Việt nam).
Tài liệu tham khảo
                                                                                                Kỹ sư Hồ Đình Hải

Xem video: Món gỏi chay hoa thiên lý 



Bông súng


Bông súng



-Tên gọi khác: Cây hoa súng (Miền Bắc),
-Tên tiếng Anh: Water lily.
-Tên khoa học: Nymphaea spp.
-Tên đồng nghĩa:

Phân loại khoa học


Giới (regnum):
Thực vật (Plantae)
(không phân hạng):
Thực vật có hoa (Angiospermae)
Bộ (ordo):
Súng (Nymphaeales)
Họ (familia):
Súng (Nymphaeaceae)
Chi (genus):
Súng (Nymphaea)
Loài (species):
Khoảng 50 loài

Chi Súng (danh pháp khoa học: Nymphaea) là một chi chứa các loài thực vật thủy sinh thuộc họ Súng (Nymphaeaceae). Tên gọi thông thường của các loài trong chi này, được chia sẻ cùng với một số chi khác trong họ này, là súng. Các lá của chi Nymphaea có vết khía chữ V nối từ mép lá tới cuống lá khu vực trung tâm. Chi này có khoảng 50 loài, với sự phân bổ rộng khắp thế giới.
Các loài quan trọng gồm:
Nymphaea alba – Súng trắng Châu Âu
Nymphaea amazonium
Nymphaea ampla
Nymphaea blanda
Nymphaea caerulea – Súng xanh Ai Cập
Nymphaea calliantha
Nymphaea candida
Nymphaea capensis – Súng xanh Cape
Nymphaea citrina
Nymphaea colorata
Nymphaea elegans
Nymphaea fennica
Nymphaea flavovirens
Nymphaea gardneriana
Nymphaea gigantea – Súng Australia
Nymphaea heudelotii
Nymphaea jamesoniana
Nymphaea lotus – Súng trắng Ai Cập
Nymphaea lotus termalis
Nymphaeae lutea – Súng vàng hay súng Brandy
Nymphaea macrosperma – Súng Australia
Nymphaea mexicana – Súng vàng
Nymphaea micrantha
Nymphaea odorata – Súng thơm
Nymphaea pubescens -Súng trắng
Nymphaea rubra – Súng đỏ Ấn Độ
Nymphaea rudgeana
Nymphaea stellata – Súng lam (quốc hoa của Sri Lanka)
Nymphaea stuhlmannii
Nymphaea sulfurea
Nymphaea tetragona – Súng lùn hay súng Pygmy
Nymphaea tuberosa

Phân bố

Chi này có khoảng 50 loài, với sự phân bổ rộng khắp thế giới.
Ở Việt Nam các loài cây bông súng sống lâu năm, mọc hoang dại trong ao, mương, kênh, rạch, láng nước, bàu trũng khắp mọi khu vực của Việt Nam.
Vùng Đồng Tháp Mười có nhiều bông súng nhất Việt Nam. Hiện tại, việc khai thác loài hoa này còn tự phát, chưa có quy hoạch. Tuy nhiên các loài cây này có khả năng tái sinh mạnh. Chưa thấy tài liệu nào thống kê tại Việt Nam có bao nhiêu loài súng, mặc dù có một số tài liệu nói rằng có khoảng 5 loài. Trong một số tài liệu có nhắc tới Bông súng lam (Nymphaea stellata = Nymphaea nouchali?), Bông súng đỏ (Nymphaea rubra), Bông súng trắng (Nymphaea lotus = Nymphaea pubescens?) v.v
Tại các chợ ở miền Tây Nam Bộ, có thể thấy bán những bó cọng bông súng mập mạp nâu nâu mang bông có màu tím nhạt, cuộn tròn, tươi rói. Bông súng cắt khúc có thể được thưởng thức bằng cách chấm mắm kho, trộn gỏi, hay ăn sống, cũng như có thể thể xào, nấu canh.



Mô tả

Chi này có quan hệ họ hàng gần với chi Nuphar (Súng ôn đới hay Huệ nước-khoảng 10-12 loài giống như bông súng), chúng khác nhau ở chỗ là các cánh hoa của chi Nymphaea lớn hơn nhiều so với các lá đài của đài hoa, trong khi ở Chi Nuphar thì các cánh hoa lại nhỏ hơn so với các lá đài màu vàng (4-6 lá).Quả khi chín cũng khác nhau, với quả của chi Nymphaea chìm xuống dưới mặt nước ngay sau khi hoa khép lại, trong khi quả của chi Nuphar lại ở trên mặt nước cho đến khi chín.
Người Ai Cập cổ đại sùng kính hoa súng sông Nin, hay hoa sen như họ gọi nó. Súng xanh Ai Cập (Nymphaea caerulea), nở hoa vào buổi sáng và sau đó chìm xuống dưới mặt nước vào lúc chiều tối. Súng trắng Ai Cập (Nymphaea lotus) lại nở hoa vào buổi đêm và khép lại vào buổi sáng. Các dấu tích của cả hai loại hoa này đều được tìm thấy trong lăng mộ của Ramesses II.
Các loài súng không có quan hệ họ hàng gì với các loài loa kèn (huệ tây) thuộc họ Loa kèn (Liliaceae), bộ Loa kèn (Liliales) mặc dù tên gọi bằng tiếng Anh của chúng là water-lily (huệ nước). Chúng cũng không có quan hệ họ hàng gì với các loài hoa sen thực sự thuộc chi Nelumbo, là các loài hoa được sử dụng trong ẩm thực tại khu vực Châu Á cũng như là loại hoa linh thiêng của đạo Hindu  đạo Phật.
Nhiều loại hoa súng thông thường trong các khu vườn thủy sinh thực chất là các giống lai ghép.
Ở Việt Nam bông súng là loài cây dại mọc nơi ao hồ hoặc ở những thửa ruộng thấp vào mùa nước nổi ở miền Tây. Loài cây này vươn lên theo nước lũ, nước càng dâng cao thì cuống lá, cọng càng dài. Lá trải rộng trên mặt nước và hoa màu trắng, màu tím hay màu hồng vươn lên khỏi mặt nước trông rất đẹp.

Giá trị dinh dưỡng

Bộ phận dùng được của cây bông súng là cọng tức là cuốn lá của cây bông súng.
Cọng bông súng tước vỏ là loại rau sạch, có hương vị đậm đà, là món rau ghém dòn và mềm có thể ăn sống, luộc, xào, nấu canh chua, nhúng lẩu v.v…
Thực ra cọng bông súng thành phần chủ yếu là nước, chất xơ và ít chất dinh dưỡng. Nhưng chất xơ có vai trò quan trọng trong đường tiêu hóa của con người.
Ăn bông súng còn là nét văn hóa ẩm thực của người dân Nam Bộ đặc biệt trong vùng nước nổi hàng năm ở ĐBSCL.
Khi nhổ bông súng, người ta chỉ nhổ những cọng có bông trên đầu, nó ngon hơn những cọng lá. Bông súng đem về được quấn thành từng khoanh tròn mỗi khoanh khoảng 10 - 20 cọng, bán 1.000-2.000 đồng một khoanh, tuy giá không cao nhưng với số lượng nhiều người nông dân cũng thu được số tiền kha khá.

Công dụng của cây bông súng

Cọng bông súng được dùng làm rau

1-Cọng bông súng dùng làm rau sống
Ở miền Tây Nam Bộ người dân có thể thu hái cọng bông súng ở các đầm, trấp, ao, sông rạch. Các chợ ở Nam Bộ thường bán cọng bông súng tươi như một loại rau sạch tự nhiên rất được các bà nội trợ miền quê ưa chuộng.
Cọng bông súng khi tước vỏ rất dòn dể gãy, do đó chỉ cần bẻ khúc hoặc dùng dao tước mỏng làm rau ghém. Cọng bông súng thường xuất hiện trong những rổ rau tập tàng của người dân vùng nước nổi. Rau bông súng thường dùng để chấm mắm kho trong những bửa ăn đạm bạc của người nông dân ở vùng sâu.
Món rau sống từ cọng bông súng cầu kỳ hơn là món bông súng bóp xổi.
Để có món bông súng bóp xổi, người ta lấy cuống bông súng tước bỏ vỏ ngoài, rửa sạch rồi ngắt từng khúc ngắn 4 - 5 cm, để vào một  thau sạch. Dùng tay bóp nhẹ những cọng súng làm cho dập mà không nát.
Pha một chén giấm cùng vài muỗng đường cát, khuấy cho tan đường. Đổ chén giấm vào thau bông súng, thêm một nắm rau răm xắt nhỏ vào, trộn đều là được. Chấm với nước mắm kho quẹt hoặc với nước tương kho. Món này ăn rất ngon miệng, tác dụng kích thích tiêu hóa, an thần, trợ tim, giải độc; rất tốt cho người ăn uống kém, ăn không tiêu, mất ngủ, tim đập mạnh, bồn chồn không yên, người bị di tinh, bạch đới, ho, viêm đường tiết niệu.
Vùng Đồng Tháp Mười có câu ca dao:
Muốn ăn bông súng mắm kho,
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm.
2-Cọng bông súng được dùng để bóp gỏi
Cọng bông súng lột vỏ, chẻ nhỏ dể làm chất nộm trộn gỏi ăn rất hấp dẫn.
Món gỏi (nộm) bông súng khá dễ làm lại mang đến hương vị thật lạ mà ngon.
Sau đây là cách chế biến món gỏi bông súng của người dân Nam Bộ:
Nguyên liệu:
1bó bông súng
1củ hành tây
1quả chanh
300gr tôm thẻ
500gr thịt ba rọi
Hành phi, tỏi
Rau răm, đậu phộng
Nước mắm.
Các bước thực hiện:
Bước 1:
- Cọng bông súng tước vỏ, rửa sạch rồi ngắt thành các đoạn ngắn; trộn đều với nước cốt chanh và 2 thìa canh đường.
- Thịt ba chỉ luộc chín, thái mỏng.
- Tôm luộc chín, vớt ra, ngâm nước đá cho giòn rồi lột vỏ.
Bước 2:
- Hành tây cắt lát mỏng, ngâm giấm đường.
- Pha nước mắm gồm có 2 muỗng canh nước mắm ngon, 2 muỗng canh đường và 1 muỗng cafe bột ngọt.
- Băm nhuyễn 4 tép tỏi, phi vàng.
- Rau răm rửa sạch, cắt nhuyễn.
- Đậu phộng rang vàng, giã nhuyễn.
Bước 3:
- Trộn đều các nguyên liệu: bông súng, tôm, thịt, rau răm, nước mắm, hành tây, tỏi băm, hành phi. Bạn lưu ý ngó súng thì mềm hơn ngó sen nên khi nào sắp ăn hãy trộn nhé!
- Múc gỏi ra đĩa, bên trên rắc đậu phộng, hành phi ăn kèm.
3-Cọng bông súng luộc, xào
Cọng bông súng lột vỏ có thể dùng để luộc, xào riêng hay chung với các món rau khác. Đặc biệt khi chế biến các món xào để ăn chay.
4-Cọng bông súng dùng để nấu canh chua, lẩu chua.
Cọng bông súng lột bỏ vỏ, ngắt khúc để nấu canh chua với bông điên điển với cá linh là món ăn theo thời vụ của người dân vùng Đồng Tháp Mười. Chỉ có được trong mùa nước nổi.
Ngoài ra bông súng còn nấu canh chua với nhiều loại các đồng khác như cá lóc, cá trê, cá rô, lươn, ếch… thì thường xuyên trong năm và là món canh truyền thống của người dân Nam Bộ.
Chỉ cần một bó bông súng, vài con cá rô và một ít rau thơm là có thể nấu một nồi canh chua rất tốt cho mục tiêu an thần, trợ tim, chữa ho và viêm đường tiết niệu. Nguyên liệu gồm một bó bông súng chừng 200 g - 300 g, cá rô đồng 200 g, rau thơm (rau ngổ, húng quế, ngò gai, hành lá) đủ dùng, me chua, ớt trái, gia vị. Bông súng tước vỏ, rửa sạch, ngắt từng khúc khoảng 5 cm; cá rô chọn con mập, đánh vảy, làm sạch, bỏ ruột.
Luộc cá chín, gỡ lấy thịt ướp gia vị, để sẵn. Đun sôi một nồi nước, lược nước me chế vào, sau đó cho cá vào. Khi cá gần chín mới cho bông súng vào. Nêm thêm nước mắm và đường sao cho canh có vị chua chua, ngọt ngọt vừa ăn. Chế thêm vài muỗng dầu ăn (hoặc mỡ nước). Múc canh ra tô, rắc lên một ít rau thơm (đã rửa sạch, cắt nhỏ) và vài lát ớt đỏ, ăn nóng trong bữa cơm.
Ngoài ra, có thể nấu canh chua bông súng với cá tra, các lăng, các bông lau, cá ba sa thì rất tuyệt.
Không nên nấu chín quá vì như thế bông súng sẽ nhũn, ăn không ngon.
5-Cọng bông súng dùng làm dưa chua
Món ăn dân dã nhất là bông súng muối làm dưa dùng để kho với cá, thịt rất ngon. Cuống lá cây súng tước bỏ vỏ cũng được dùng muối dưa (như muối dưa cải), làm gỏi để ăn.Khi ăn thực khác sẽ cảm nhận được vị ngọt thanh trong từng cọng bông súng muối vừa dai vừa mặn mà.


Cây bông súng được dùng làm thuốc

Theo đông y, bông súng có tác dụng giúp làm dịu dục, chống co thắt, an thần, trợ tim, trợ hô hấp, tăng cường sinh lực; thường được sử dụng trong các trường hợp tình dục bị kích thích, di tinh, mộng tinh, mất ngủ, tim đập nhanh, kiết lỵ, tiêu chảy, ho, viêm bàng quang, viêm thận, tiểu buốt, tiểu són, đau lưng, mỏi gối do thận yếu.
Các bộ phận của cây bông súng còn được dùng làm thuốc thanh nhiệt, chống say nắng, cầm máu... Đặc biệt, nó còn trị hiệu quả chứng co giật ở trẻ, đau lưng mỏi gối, nam bị di tinh hoặc phụ nữ khí hư bạch đới.

Một số bài thuốc từ cây bông súng

1-Chữa nam di tinh, đái nhiều, nữ khí hư bạch đới không dứt: bài thuốc gồm củ súng sao, kim anh bỏ hạt ở trong vì có độc, lấy lớp vỏ bao ngoài, đốt cho cháy sạch lông gai, sao giòn. Các vị lượng bằng nhau, tán bột uống mỗi ngày 15-20 g với nước sắc rễ ý dĩ làm thang.( Theo Bác sĩ Quang Minh).
2-Chữa thận hư tỳ yếu, đau mỏi ngang thắt lưng: củ súng 20 g, ba kích, cẩu tích, tỳ giải (tẩm rượu sao), hà thủ ô (chế với đậu đen đồ phơi 9 lần), ngưu tất mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.( Theo Bác sĩ Quang Minh).
3-Giải cảm nắng: củ súng nấu chè ăn.( Theo Bác sĩ Quang Minh).
4-Chữa suy nhược cơ thể, hay đổ mồ hôi trộm, di tinh: củ súng nấu chín, bóc vỏ 400 g. Củ mài nấu chín, bóc vỏ 800 g. Phơi khô tán nhỏ, mỗi lần dùng 10 g nấu thành cháo ăn hằng ngày lúc đói. Bài thuốc này còn có tác dụng bồi bổ, ích chí, mạnh tinh.( Theo Bác sĩ Quang Minh).
5-Chữa hen suyễn ở người già và trẻ em: củ súng và hạt cải củ, hai thứ lượng bằng nhau, đem đồ chín, phơi khô, tẩm nước cốt gừng, tán nhỏ thành bột, luyện với mật ong thành viên hoàn bằng hạt ngô đồng, ngày uống 50 viên với nước sôi. Bài thuốc còn có tác dụng bổ dưỡng, giảm ho, cắt cơn hen. (Theo Bác sĩ Quang Minh).
                                                 Tài liệu tham khảo
9-http://hanhphucgiadinh.vn/15796/mon-ngon-dong-que-goi-bong-sung-tom-thit/
                                                                                                   Kỹ sư Hồ Đình Hải

Xem video: Mùa bông súng


Nấm bào ngư


NẤM BÀO NGƯ

Nấm bào ngư trắng
-Tên gọi khác: Nấm sò, nấm sò xám, nấm hương chân ngắn, nấm trắng, nấm dai…
-Tên tiếng Anh: Oyster mushroom, Tree Oyster mushroom, Straw mushroom.
-Tên khoa học: Pleurotus ostreatus (Jacq. ex Fr.) P.Kumm. 1871
-Các phân loài: P. cystidiosus (nấm bào ngư) - Toàn cầu.
                           P. abalonus - (nấm bào ngư)-Đài Loan.
                           P. fuscosquamulosus - (nấm bào ngư) Châu Phi, Châu Âu.
                           P. smithii - (nấm bào ngư) Mexico.

Phân loại khoa học


Giới (regnum):
Nấm (Fungi)
Ngành (phylum):
Nấm đảm (Basidiomycota)
Lớp (class):
Nấm tản (Agaricomycetes)
Bộ (ordo):
Nấm tản (Agaricales)
Họ (familia):
Nấm bào ngư (Pleurotaceae)
Chi (genus):
Nấm bào ngư (Pleurotus)
Loài (species):
Pleurotus ostreatus
Chi nấm bào ngư hay nấm sò (Pleurotus) là một Chi nấn lớm bao gồm nhiều loài nấm ăn được, trong đó điển hình là nấm Bào ngư P.ostreatus. 
Pleurotus có nghĩa là "tai bên", từ tiếng Hy Lạp ( pleurē ) = "mặt"  +(ōtos ) = "tai".
Ở Việt Nam nấm bào ngư còn tên gọi là nấm hương chân ngắn, nấm sò xám, nấm trắng, nấm dai…
Việc phân loại các loài trong Chi Pleurotus là khó khăn do sự biến đổi kiểu hình cao trên phạm vi địa lý rộng, với sự chồng chéo của các loài trong một vùng địa lý, và sự tiến hóa liên tục và sự biệt hóa . 
Chi Nấm Sò Pleurotus gồm các loài sau:
I. P. ostreatus (Nấm sò, nấm sò ngọc trai) - Bắc Mỹ và Bắc Âu Á. (có 1 loài phụ)
P. florida
II. P. pulmonarius (Nấm phượng hoàng hay nấm sò Ấn Độ) - Bắc Mỹ, Âu Á, và Châu Úc. (có 2 loài phụ).
P. columbinus 
P. sapidus
III. P. populinus - Bắc Mỹ.
IV. P. cornucopiae (nhánh nấm sò) - Châu Âu (có 2 loài phụ).
P. citrinopileatus (nấm sò vàng) - Đông Á
P. euosmus (nấm hàu ngải giấm)
V. P. djamor (nấm sò màu hồng) – pantropical (có 3loài phụ).
P. flabellatus
P. salmoneo-stramineus
P. salmonicolor
VI. P. eryngii (nấm sò vua) - Châu Âu và Trung Đông. (có 3 loài phụ)
P. ferulae
P. fossulatus Afghanistan.
VII. P. cystidiosus (nấm bào ngư) - Toàn cầu (Có 3 loài phụ).
P. abalonus - Đài Loan.
P. fuscosquamulosus - Châu Phi, Châu Âu.
P. smithii
VIII. P. levis - cận nhiệt đới và vùng nhiệt đới.
IX. P. dryinus - Bắc Mỹ, Châu Âu, và New Zealand.
X. P. củ-regium (vua nấm củ) - Châu Phi, Châu Á, Úc.
XI. P. opuntiae - Bắc Mỹ, New Zealand.
XII. P. abieticola - Châu Á.
XIII. P. albidus - Caribbean, Trung Mỹ, Nam Mỹ.
XIV. P. australis nấm sò (màu nâu) - AustraliaNew Zealand.
XV. P. purpureo-olivaceus - AustraliaNew Zealand. (có 2 phân loài).
XVI. P. calyptratus
Các loài tương cận có mối quan hệ không rõ ràng
P. parsonsii 
P. velatus 

Phân bố

Chi nấm bào ngư hay nấm sò (Pleurotus) được tìm thấy trong vùng khí hậu nhiệt đới  ôn đới trên toàn thế giới. Hầu hết các loài nấm Pleurotus sống hoang dại trên thân cây gổ đã chết còn cứng hay trên gổ cây tùng đã hoai mục.
Nấm bào ngư Nhật
Nấm sò là phổ biến rộng rãi trong các khu rừng ôn đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới, mặc dù nó là vắng mặt từ  Tây Bắc Thái Bình Dương của Bắc Mỹ , được thay thế bởi P.pulmonarius  P. populinus . 
Đặc biệt loài nấm bào ngư Nhật (P. eryngii ) có mối liên kết với các loại cây thân cỏ , và nấm củ (P. regium) sản xuất ngầm hạch nấm ngầm .Ngoài ra tất cả các loài nấm sò Pleurotus cũng tiêu diệt tuyến trùng và giun tròn (nematophagous) , bằng cách làm tê liệt chúng với chất độc.
Nấm bào ngư được trồng rộng rãi và được sử dụng ở Kerala , Ấn Độ , nơi có nhiều món ăn được chuẩn bị từ nấm. Ngoài thu hái trong tự nhiên, hiện nay nấm bào ngư chủ yếu được trồng trong các túi nhựa với nguyên liệu là mạt cưa, bột gổ, rơm, rạ...
Hiện nay rất nhiều nước trên thế giới mở rộng công nghệ trồng nấm bào ngư vì đây là những loài nấm có giá trị dinh dưỡng cao, dể trồng và sản phẩm đẹp phù hợp với các siêu thị.

Mô tả

Nấm bào ngư Pleurotus, thường mọc hoang trên thân gỗ, mọc đơn độc hay mọc chồng lên nhau và có nhiều loại khác về màu, hình dạng, ít bệnh, dễ trồng. Nấm có dạng hình phễu lệch, thân có 3 phần gồm mũ, phiến và cuống nấm.
Các mũ có thể được gắn theo chiều ngang (không có gốc). Nếu có gốc, nó là bình thường và mang các tai nấm (decurrent) dọc theo nó. Thuật ngữ pleurotoid được sử dụng cho các nấm có hình dạng chung này.
Các bào tử có dạng trơn tru và kéo dài (được mô tả là "trụ"). Trường hợp sợi nấm đáp ứng, họ được tham gia kết nối kẹp. Loài nấm sò Pleurotus không được coi là một loại nấm khung , và hầu hết các loài mọc đơn (monomitic) với một tai nấm mềm. Tuy nhiên trong môi trường khô hạn cây nấm có thể mọc đôi (dimitic) , có nghĩa là nó có thêm sợi nấm phụ giống như dạng nấm khung.
Nấm có tai rộng hình nắp vỏ sò, dài từ 5-25 cm, tùy loài có màu sắc thay đổi từ màu trắng kem đến trắng xám, xám, nâu…

Giá trị dinh dưỡng

Nấm bào ngư là loại nấm giàu dinh dưỡng và dược tính nên được gây trồng trên rơm rạ, bã mía, mùn cưa… để làm thực phẩm và làm thuốc trị bệnh.
Thành phần có trong nấm bào ngư tươi gồm:
-Protide 4%.
-Glucide 3,4%.
-Vitamine C, vitamine PP, acide folic..
-Các acide béo không no…
Khi nấm bào ngư dưới dạng sinh khối khô, hàm lượng proteine chiếm tới 33 – 43%, ngoài ra còn thấy các acide amine như glutamic, valin, isoleucin… tuy nhiên cũng chứa một hàm lượng rất nhỏ chất arabitol nên khi ăn vào có thể gây khó chịu trong đường tiêu hóa ở một số cá nhân.

Công dụng của nấm bào ngư

Nấm bào ngư là loại rau sạch có dinh dưỡng cao

Các loại nấm bào ngư (nấm sò) là thứ thực phẩm rất tiện ích cho cuộc sống con người, dễ nuôi trồng và hoàn toàn có lợi về vấn đề môi trường. Đặc biệt, nấm còn vừa là "rau sạch" và vừa là "thịt sạch".Có thể nói nấm là nguồn thực phẩm chức năng của thế kỉ 21.
Khí hậu mát mẻ quanh năm là điều kiện rất thích hợp cho Nấm Bào Ngư phát triển tự nhiên, không sâu bệnh, nấm gây hại.
Nấm bào ngư thường được sử dụng trong nấu ăn ở Nhật Bản , Hàn Quốc  Trung Quốc như 1 món ăn thường xuyên phục vụ riêng của mình, trong súp, nhồi, hoặc trong các công thức nấu ăn xào với nước tương . Nấm Oyster đôi khi làm thành nước sốt, được sử dụng trong nấu ăn ở Châu Á, tương tự như dầu hào . Hương vị của nấm đã được mô tả như là một nhẹ với mùi nhẹ tương tự như hồi .Nấm sò là tốt nhất khi còn non, khi nấm già thịt trở nên cứng rắn và hương vị trở nên chát và khó chịu.
Nấm bào ngư là nguồn thực phẩm cao cấp được dùng để nấu nhiều món ăn khác nhau như xào, hầm với nhiều thực phẩm khác làm tăng hương vị và tăng chất bổ dưỡng. Các món ăn nấu với nấm bào ngư vừa là thức ăn ngon vừa là bài thuốc phòng trị nhiều bệnh tật.
Điển hình là món cháo thịt thăn, nấm bào ngư, vừa ngon vừ có tác dụng phòng và trị bệnh:
Nguyên liệu: Nấm bào ngư 200g (ngâm trong nước muối loãng, rửa sạch vớt ra, thái mỏng), gạo tẻ ngon 20g, thịt nạc thăn thái nhỏ, bỏ những mỡ bám và băm nhuyễn 100g, hành, ngò, tiêu, gia vị, nước mắm, bột nêm, bột ngọt, dầu vừa đủ. Dùng cho 2 người ăn trong một bữa.
Cách làm: Ướp thịt với nước mắm ngon cùng hành, tiêu và bột nêm. Gạo tẻ đãi sạch cho vào nồi nấu nhừ thành cháo. Lấy chảo để nóng cho dầu ăn phi hành thơm cho thịt nạc thăn đã băm nhuyễn vào xào qua cho thịt vừa chín tới thì đổ thịt vào nồi cháo. Tiếp theo cho nấm vào nấu sôi thêm 10 phút, nêm đủ hành ngò, gia vị, bột ngọt vừa đủ đảo đều, bắc xuống luôn.
Với nấm sấy khô: Rửa sạch trụng qua nước sôi 1-2 phút để chế biến như nấm tươi.

Nấm bào ngư được dùng làm thuốc

Đông y cho rằng nấm bào ngư có vị ngọt, tính ấm, công năng tán hàn và thư cân.
Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm ăn còn có nhiều đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng và chữa các bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột, tẩy máu xấu...; và đặc biệt là đã có một số công trình nghiên cứu còn cho rằng nấm bào ngư còn có khả năng chống bệnh ung thư (hướng nghiên cứu này sẽ được tiếp tục làm sáng tỏ trong tương lai).
Tác dụng chống ung thư của nấm bào ngư do sự hiện diện của lovastatin trong tai nấm, tập trung ở phiến nấm và đặc biệt ở bào tử nấm. Nấm sò là một trong những thường tìm nấm hoang dã, mặc dù nó cũng có thể được trồng trên rơm rạ và các loại vật liệu khác. Nó thường có hương thơm của hồi do sự hiện diện của benzaldehyde.
Với các kết quả nghiên cứu dược lý người ta cho biết trong nấm bào ngư có chất pleutorin có công hiệu kháng khuẩn gram dương và kháng cả tế bào ung thư… Các nghiên cứu khác có tác dụng làm giảm thiểu đối với cholesterol và đường máu cho kết quả khả quan.
Trong tự nhiên nấm bào ngư có tiết ra chất kháng tuyến trùng và giun tròn. Do đó khi ăn nấm bào ngư còn có tác dụng phòng ngừa giun, sán rất tốt.
Các bài thuốc từ nấm bào ngư
1-Trị mỡ máu, tiểu đường: Nấm bào ngư 100 – 200g, nấu lấy nước uống hằng ngày. (theo Bác sĩ Hoàng Xuân Đại).
2-Tây y: Nghiên cứu cho thấy trong nấm bào ngư có chức đến 2,8% chất lovastatin so với trọng lượng khô. Người ta chiết xuất chất này để chế ra thực phẩm chức năng và chế thuốc làm giảm cholesterol.
References
5-http://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%A5m_s%C3%B2
                                                                                                   Kỹ sư Hồ Đình Hải