Dây mướp


DÂY MƯỚP

Mô hình dây mướp

Dây và quả mướp hương
-Tên gọi khác: Mướp ta, mướp hương, mướp gối, mướp Ai Cập.
-Tên tiếng Anh: Smooth Luffa , Egyptian Luffa. Sponge Gourds, Vegetable Sponge, Wash Sponge, Gourd Towel, Dishcloth Gourd, Loofah Gourd
-Tên khoa học: Luffa aegyptiaca Mill.
-Tên đồng nghĩa: Luffa aegyptica (lapsus), Luffa cylindrica (L.) Roem.
-Các loài tương cận:
-Mướp khía, mướp tàu (Luffa acutangula).
-Mướp xơ (Luffa operculata).

Phân loại khoa học


Giới (regnum):
Thực vật (Plantae)
Ngành (divisio):
Thực vật có hoa (Magnoliophyta)
Lớp (class):
Thực vật hai lá mầm (Magnoliopsida)
Bộ (ordo):
Bầu bí (Cucurbitales)
Họ (familia):
Bầu bí (Cucurbitaceae)
Chi (genus):
Mướp (Luffa)
Loài (species):

Phân bố

Chi Mướp (Luffa) bao gồm các loài dây leo sống một năm ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chi này được biết có 5 loài với khoảng 8 giống (varieties), trong đó có ít nhất 2 loài được dùng làm rau ăn quả phổ biến ở Châu Á và Châu Phi đó là:
-Loài Mướp khía, mướp tàu (Luffa acutangula) với 3 giống.
-Loài Mướp hương, mướp Ai Cập (Luffa aegyptiaca) với 2 giống. Đó là giống mướp hương Luffa aegyptiaca aegyptiaca được trồng làm rau phổ biến và giống Mướp hoang Miến Điện (Luffa aegyptiaca leiocarpa) cũng được khai thác làm rau ăn.
Tên Latin của Chi mướp (Luffa) được các nhà phân loại Châu Âu đặt từ thế kỷ thứ 18 từ nguồn gốc tên chữ Á Rập “lūf ”.
Loài Mướp hương, mướp Ai Cập (Luffa aegyptiaca) có nguồn gốc xuất xứ từ Bắc Phi. Được giới thiệu và trồng ở nhiều nước nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Châu Phi và Châu Á.
Cây Mướp hương được trồng ở khắp các nước thuộc vùng Nam Á, Đông Nam Á, và cả ở Đông Bắc Á, như Trung Quốc và Nhật Bản.

Mô tả

Mướp là một loại cây thảo dạng dây leo. 
-Thân: Dây leo bằng tua cuốn phân nhánh, thường 4-5 nhánh; tua cuốn màu xanh lục nhạt có tiết diện đa giác, có lông ngắn màu trắng, mặt trên có rãnh ở giữa. Thân dài 5-10 mét. Thân có màu xanh lục nhạt, tiết diện đa giác, có 5 gân dọc, rải rác có lông ngắn màu trắng. 
-Lá: Lá đơn, mọc cách. Phiến lá hình trái xoan, đáy hình tim, dài 8-16 cm, rộng 7-20 cm, xẻ 5-7 thùy cạn theo kiểu chân vịt, thùy có dạng tam giác đỉnh có mũi nhọn, thùy giữa to hơn các thùy còn lại; mép lá có răng cưa. Lá màu xanh lục đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới, ở 2 mặt phủ đầy lông nhám màu trắng. Gân lá chân vịt với 5-7 gân chính nổi rõ ở mặt dưới, gân phụ tạo thành hình mạng. Cuống lá có tiết diện đa giác, màu xanh lục, dài 5-7 cm, mặt trên có rãnh ở giữa, có lông ngắn màu trắng và có 6 gân dọc.
-Hoa: Đều, đơn tính cùng gốc, mẫu 5, đôi khi mẫu 6. 
Hoa đơn tính, các hoa đực tập hợp thành chùm dạng chùy, các hoa cái mọc đơn độc. Ở nách lá có hệ thống đặc biệt, gồm có: 1 hoa cái riêng lẻ; 1 cụm hoa đực dạng chùm gồm 12-20 hoa; 1 tua cuốn phân nhánh; 1 vảy cứng màu xanh lục, kích thước 0,5-0,8 cm x 0,5-0,8 cm, mặt dưới có nhiều đốm tuyến tròn màu xanh lục đậm.
-Hoa đực: Cuống hoa có tiết diện đa giác, màu xanh lục, dài 0,8-1,3 cm, phủ đầy lông tơ màu trắng, trên cuống có khớp cách đài hoa 0,5 cm, đoạn khớp có màu nhạt hơn. Lá bắc dạng vảy hình bầu dục màu xanh lục, kích thước 0,5 x 0,3 cm, mặt dưới có đốm tuyến tròn màu xanh lục đậm và có ít lông tơ trắng. Lá đài 5-6, đều, màu xanh lục nhạt, phủ đầy lông tơ trắng; ống đài hình chuông cao 0,5 cm, có 10 đường gân dọc; 5 thùy hình tam giác cao 1-1,5 cm, rộng 0,8-1 cm, mỗi thùy có 3 gân dọc, đôi khi mặt dưới có vài đốm tuyến tròn màu xanh lục đậm . Tiền khai đài van. Cánh hoa 5-6, đều; mặt trên vàng đậm , mặt dưới vàng nhạt; dính nhau phía dưới khoảng 0,2-0,3 cm và dính vào lá đài, sau khi tách khỏi đài tràng hoa chia 5 thùy kích thước 3,5-5 cm x 2-2,5 cm, đỉnh mỗi thùy chia 2 thùy cạn tròn và giữa 2 thùy này có mũi nhọn; bìa nhăn, 2 mặt phủ đầy lông dài màu trắng, mặt dưới có 5-7 gân màu xanh lục nhạt. Tiền khai cánh hoa lợp. Nhị 5-6, đều, rời, đính ở nơi tiếp giáp giữa đài và tràng trên 1 vòng xen kẽ cánh hoa. Chỉ nhị dạng sợi màu vàng nhạt, dài 1 cm, gốc hơi phình ra và có nhiều lông trắng như nhung. Bao phấn cong queo, màu vàng, cao 0,3 cm, 1 ô, hướng ngoại, đính giữa, mở bằng một đường nứt cong queo, chung đới nở rộng.
Hạt phấn rời, màu vàng nhạt, hình cầu có 2-3 lỗ, hay hình bầu dục có 2 rãnh dọc, kích thước 100-120 µm. Đĩa mật to, màu vàng, chia 5 thùy xen kẽ nhị, nằm trên đế hoa và dưới nhị. 
Hoa cái: Cuống hoa hình trụ, màu xanh lục, có ít lông ngắn, dài 5-15 cm. Lá đài 5-6, đều, màu xanh lục, có ít lông tơ trắng; ống đài cao 0,1 cm; 5-6 thùy hình tam giác cao 1,5 cm, rộng 0,5-1 cm, mỗi thùy có 3 gân dọc, mặt dưới có nhiều đốm tuyến tròn màu xanh lục đậm. Tiền khai đài van. Cánh hoa tương tự như hoa đực. Lá đài và cánh hoa dính nhau ở phần ống và dính vào bầu noãn. Lá noãn 3, bầu dưới 3 ô, mỗi ô nhiều noãn, đính noãn trắc mô đặc biệt. Bầu noãn hình trụ màu xanh lục, dài 6-8 cm, phủ đầy lông mịn màu trắng, có 10 sọc dọc và có những đốm đen; 1 vòi nhụy hình trụ dài 1 cm, màu xanh lục; 3 đầu nhụy màu vàng nhạt, nở rộng, cong về phía dưới, mặt trên có rãnh giữa. Nhị lép là những vảy hình tam giác màu trắng, có nhiều lông mịn màu trắng, đính ở nơi tiếp giáp giữa đài và tràng. Đĩa mật dạng khoen màu vàng, chia 3 thùy, bao quanh gốc vòi nhụy. 
-Quả: Quả hình thoi hay hình trụ, màu xanh lục, dài 0,3 - 0,9 m. Trên vỏ quả có 10 đường gân dọc màu xanh đậm và những đốm màu đen, khi già thì khô, bên trong có nhiều xơ dai. Quả Mướp thường dùng ăn chữa được chứng đậu sởi, khỏi lở sưng đau nhức, lại kích thích sự tiết sữa ở các bà mẹ đang nuôi con và tăng cường sự tuần hoàn.
-Hạt: Hạt hình trứng dẹp, 2 đầu tròn, màu đen, dài 1-1,2 cm, có rìa.
Cây mướp hương được trồng để lấy quả xanh và được dùng như một loại rau, hoặc được trồng làm cảnh. Xơ từ quả chín được dùng làm vật cọ rửa.
Mướp hương cũng được sử dụng trong đông y.
Các loài thuộc chi Mướp bị ấu trùng của một số loài côn trùng thuộc bộ cánh vẩy (Lepidoptera) phá hoại, chẳng hạn Hypercompe albicornis.

Thành phần hóa học

Quả, lá và cành chứa các Saponin triterpen có tên chung là luciosid.
Trong quả chứa chất đắng, saponin, chất nhầy, xylan, mannan, galactan, lignin, mỡ, protein 1,5%.
Trong quả tươi có nhiều choline, phytin, các acid amin tự do: lysin, arginin, acid aspartic, glycin, threonin, acid glutamic, alanin, tryptophan, phenylalanin và leucin.
Hạt chứa một chất đắng là cucurbitacin B, một saponin đắng kết tinh khi thuỷ phân cho acid oleonolic và một sapogenin trung tính; còn có một saponin khác.
Dầu hạt mướp có khoảng 35,5% các acid chủ yếu là palmitic, stearic, oleic, linoleic, trong đó acid linoleic chiếm 50 -70%.
Rễ mướp chứa nhiều vitamin B và C muối khoáng (nitrat kali), các men ribonuclease và acid bryonilic. Hoa mướp cái có β sitosterol, apigenin và acid oleanolic.
Trong các bộ phận ăn được của cây mướp không phát hiện thấy độc tố.

Công dụng

a-Đọt, lá non và quả mướp được dùng làm rau
1-Đọt và lá non dây mướp được dùng làm rau luộc, xào, nấu canh
Do đọt và lá non của dây mướp hương có vị hơi đắng và nhớt nên không được dùng để ăn sống mà được luộc, xào  hoặc nấu canh cùng nhiều loài rau khác.
2-Quả mướp hương được dùng làm rau
Quả mướp là bộ phận chính được dùng làm rau ở nhiều nước Châu Phi và Châu Á.
+Ở Việt Nam
1-Quả mướp hương được dùng là rau luộc hoặc hấp cơm
Quả mướp non được luộc hoặc hấp cơm khi chín mềm dùng chấm nước chấm hoặc nước thịt, cá kho, mắm chua, mắm tôm…
2-Quả mướp non được xào
Quả mướp non gọt vỏ, xắt miếng theo cách chẻ dọc hoặc xắt ngang để xào với nhiều món như lòng vịt, mực, tôm, thịt…
3-Quả mướp được dùng để nấu canh
Quả mướp gọt bỏ vỏ, cắt xéo để nấu món canh mướp, có thể nấu với nước cốt dừa. Món canh mướp rất phổ biến ở Nam Bộ Việt Nam.
4-Bông mướp luộc, xào, nấu canh
Bông bí là món ăn ngon, dược dùng để luộc, xào, nấu canh, nhúng lẫu là món ăn hấp dẫn ở Nam Bộ Việt Nam.
+Ở nước ngoài
Ở Nhiều nước Châu Phi và Châu Á các bộ phận cây mướp như đọt non, lá non và quả cũng được dùng làm rau như ở Việt Nam.
Các cách sử dụng khác như:
-Ở Ấn Độ quả mướp được dùng trong món nấu cà ri hoặc được chiên với bột đậu xanh để làm bữa ăn nhẹ (bhajji).
-Ở Canada quả mướng non luộc còn được gọi là đậu bắp Trung Quốc.
b-Các bộ phận của cây mướp được dùng làm thuốc
+Theo Đông y
Các bộ phận của cây mướp, như lá mướp (ty qua diệp), dây mướp (ty qua đằng), xơ mướp (ty qua lạc) đều là những vị thuốc có thể sử dụng để trị nhiều bệnh khác nhau.
1-Lá mướp có vị ngọt, chua, mát, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, trừ đờm, chỉ khái, giải độc, chỉ huyết.
Lá dùng trị ho gà, ho, nắng nóng miệng khát; dùng ngoài trị vết thương chảy máu ghẻ lở, bệnh mụn. Lá sắc với cây cứt lợn, uống chữa phù thũng. Dùng ngoài, lá tươi giã nát, ép lấy nứơc bôi chữa chốc lỡ đầu, mẫn ngứa do giời leo. Lá vò nát còn chữa bệnh zôna.
2-Quả mướp thường gọi là Sinh ty qua có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, hóa đàm, lương huyết, giải độc.
Quả Mướp hương non được dùng làm thực phẩm, có tác dụng làm tăng tiết sữa cho phụ nữ sau khi đẻ và làm máu lưu thông, giúp nhuận tràng.
3-Hạt mướp dùng trị ho nhiều đờm, giun đũa, đái khó.
4-Xơ mướp thường gọi là Ty qua lạc có vị ngọt tính bình, có tác dụng thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt, hóa đàm, lợi thủy, tiêu thũng.
Xơ Mướp thường dùng trị gân cốt đau nhức, đau mình mẩy ngực sườn, bế kinh, sữa chảy không thông, viêm tuyến sữa, thuỷ thũng, chữa trĩ ra máu, rong huyết, rong kinh, kiết lỵ, tiêu chảy ra máu.
5-Thân cây mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng hoạt huyết thông lạc, thanh nhiệt giải độc.
Dây Mướp dùng trị đau lưng, ho, viêm mũi, chảy nước mũi có mùi hôi, viêm nhánh khí quản.
6-Gốc cây mướp trị viêm xoang, viêm mũi, mũi ngứa, chảy nước mũi, nước mũi có mùi hôi, tanh.
7-Rễ mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, thanh trừ nội nhiệt, nhuận tràng, trị phế ung, viêm mũi, viêm xoang, ho, đau nửa đầu, viêm tuyến vú.
Rễ dùng trị viêm mũi, viêm các xoang phụ của mũi, đau nửa đầu, viêm tuyến vú, ho đau lưng, trúng phong.

Món mướp luộc

Món mướp xào

Nụ hoa mướp xào mề gà

Canh mướp


+Ở nước ngoài
Ở nhiều nước Châu Á và Châu Phi người ta dùng nước ép quả mướp để trị chứng bệnh vàng da. Cách lấy nước ép: Dùng quả mướp đập dập hoặc đâm nhuyễn, dùng vải lược vắt lấy nước uống. Ngoài ra hạt và võ quả khô ngâm nước rồi đâm nát, vắt lấ nước uống cũng có tác dụng tương tự.
c-Các công dụng khác của cây mướp hương
-Xơ mướp được dùng như bọt biển trong nhà bếp và nhà tắm ở nhiều nước.
-Ở Paraguay, xơ mướp được làm vật liệu đệm để tạo thành ván ép dùng trong trang trí nội thất.

Các bài thuốc từ cây mướp hương

1-Lá mướp trị ho cấp tính và mạn tính, nhiều đờm, đờm dính máu
 Hằng ngày dùng 10 - 15g, sắc uống; hoặc lấy lá tươi, rửa sạch, thêm chút muối ăn, giã nát, vắt lấy nước uống, trị viêm họng, họng sưng đau. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
2-Lá mướp trừ phù thũng, trị mụn nhọt sưng đỏ
Có thể lấy lá bánh tẻ, rửa sạch, giã nát, đắp lên mụn nhọt hoặc lên vết thương để tiêu viêm, tiêu sưng. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
3-Quả mướp dùng dể thanh nhiệt, hóa đàm, lương huyết, giải độc
Dùng quả non, khi quả ra được khoảng 20 ngày, hái về thái mỏng, sao vàng, sắc uống có tác dụng trừ đờm, trị ho, hen,  khó thở. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
4-Xơ Mướp dùng trị gân cốt đau nhức, đau mình mẩy ngực sườn, bế kinh, sữa chảy không thông, viêm tuyến sữa, thuỷ thũng.
Có thể lấy những quả mướp chín, già, khô trên giàn; hoặc hái các quả mướp già, phơi khô hoặc sấy khô, bóc bỏ vỏ, bỏ hạt. Khi cần nhiều xơ mướp, có thể, sau khi thu hái các quả mướp già, bó lại thành bó, ngâm xuống nước vài ngày cho thịt mướp rữa ra, sau đó rửa sạch xơ, rồi đem phơi khô, sấy khô.
Lấy xơ này, cắt thành từng đoạn 1 - 2cm, sao vàng, nghiền thành bột mịn, uống ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 10g, để thông kinh, hoạt lạc, trừ phong thấp, lợi tiểu, giải độc. Dùng trong các trường hợp đau tức sườn ngực, đau cơ.
Xơ mướp đem sao đen, sao tới khi toàn bộ phía ngoài có màu đen, bên trong vẫn còn màu vàng, tán thành bột mịn, uống với nước ấm, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 4 - 8g, có tác dụng cầm máu, giảm đau. Dùng trị trĩ ra máu, đại tiện ra máu, xuất huyết tử cung… Ngoài ra để thúc sởi chóng mọc, dùng xơ mướp 20g; kinh giới, bạch chỉ, kim ngân, mỗi thứ 12g; cỏ mần trầu 8g; cam thảo 4g. Sắc uống, ngày 1 thang chia 2 lần. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
5-Thân mướp dùng làm thông mũi, trị bệnh viêm mũi mạn tính, viêm cuốn mũi
Sau khi thu hái, đem phơi khô, cắt thành từng đoạn 3-5cm, sao vàng, nghiền thành bột mịn uống với nước sôi để nguội, ngày 2-3 lần, mỗi lần 8-12g. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
6-Gốc cây mướp trị viêm xoang, viêm mũi, chảy nước mũi, nước mũi có mùi hôi, tanh
Sau khi rửa sạch, cạo bỏ lớp vỏ bên ngoài, thái nhỏ, sao vàng, sắc uống có tác dụng tiêu viêm. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
7-Rễ mướp thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, thanh trừ nội nhiệt, nhuận tràng, trị phế ung, viêm mũi, viêm xoang, ho, đau nửa đầu, viêm tuyến vú.
Ngày 15-30g dưới dạng sao vàng, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần. Uống nhiều ngày tới khi các triệu chứng thuyên giảm. (theo GS.TS Phạm Xuân Sinh).
8-Nước dây mướp - giữ ẩm, làm dịu da
Cắt dây mướp cách gốc 2-3 mét, để một lọ phía dưới hứng nhựa dây mướp chảy vào. Pha với rượu trắng để bảo quản, bạn có thể cất trữ trong tủ lạnh dùng quanh năm.
Nước dây mướp có tác dụng làm mềm da, giúp da giữ ẩm rất tốt. Loại này hợp với mọi loại da, nhất là da khô, có công dụng trị nếp nhăn và tàn nhang. (theo BS. Nông Thúy Ngọc, Nông Nghiệp Việt Nam).
9-Trị ít sữa
Người ta dùng chân giò lợn nấu với Mướp để ăn. (theo thuocdongy.com).
10-Chữa phụ nữ kinh nguyệt không thông hoặc không hành kinh được, máu xung lên tâm
Xơ Mướp đốt tồn tính uống vào lúc sáng, trưa, đói lòng, với rượu. (theo thuocdongy.com).
11-Chữa tắc tia sữa
Dùng quả Mướp khô cả hạt, đốt tồn tính, tán bột, uống với rượu, mỗi lần 8g và dùng xoa bóp ngoài. (theo thuocdongy.com).
Tài liệu cần đọc thêm

Dàn mướp trồng ở vùng quê Nam Bộ

                                                                                                           Kỹ sư Hồ Đình Hải

Tài liệu tham khảo
8-http://www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy.../thuocdongy/.../Muop.htm

Xem Video: Công dụng của mướp




Xem Video: Mô hình trồng mướp hương


Cây cà tím


CÂY CÀ TÍM

Cây cà tím


Hoa và quả cây cà tím
-Tên gọi khác: Cà nâu, cà dái dê
-Tên tiếng Anh: eggplant, aubergine, brinjal eggplant, melongene, brinjal  or  guinea  squash,
-Tên khoa học: Solanum melongena L.
-Tên đồng nghĩa:
Solanum ovigerum Dunal
Solanum trongum Poir.
Melongena ovata Mill.
Solanum album Noronha
Solanum insanum L.
Solanum longum Roxb.
Solanum melanocarpum Dunal
Solanum melongenum St.-Lag.
-Các loài tương cận:
Cà chua , S. lycopersicum
Khoai tây , S. tuberosum
Cà pháo , S. macrocarpon L.

Phân loại khoa học


Bộ (Order):
Họ (Family):
Chi (Genus) :
Loài (Species):
Solanum melongena

Chi cà (Solanum) được thành lập bởi Carl Linnaeus năm 1753. Chi này về sau được phân thành nhiều chi nhỏ hơn, ​​nhưng hiện nay dựa vào cơ sở phân tích chuỗi DNA nên nhiều giống cà có hình dạng, màu sắc và kích thước quả khác nhau được xếp vào chi cà.

Phân bố

Chi cà (Solanum) có tên tiếng Anh (nightshades , horsenettles) với khoảng 1,500-2,000 loài cây một năn và cây hàng năm phân bố rộng rải ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới. Nguồn gốc xuất xứ củ chi cà chưa được xác định.
Đây là một chi lớn và được chia thành 4 Phân chi (Subgenus). Phân chi  Bassovia bao gồm nhiều giống cà có quả ăn được.
Cây Cà tím (S. melongena) có nguồn gốc từ Tiểu lục địa Ấn Độ, sau đó được giới thiệu sang các nước thuộc vùng Nam Á , Đông Nam Á và Đông Á từ thời tiền sử.
Ở Trung Quốc cây cà tím xuất hiện trong sách nông nghiệp cổ đại vào năm 544. Ở Địa Trung Hải đã mô tả loài cây này khoảng thế kỷ thứ 12 và ở Anh ghi nhận loài cây này khoảng giữa thế kỷ thứ 16 (năm 1597).
Theo FAO trong năm 2010, sản xuất cà tím được tập trung cao độ, với 90% sản lượng đến từ năm quốc gia. Trung Quốc là nhà sản xuất hàng đầu (58% sản lượng thế giới) và Ấn Độ là lần thứ hai (25%), tiếp theo là Ai Cập, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ. Nhiều hơn 4.000.000 mẫu Anh (1.600.000 ha) được dành cho việc trồng cà tím trên thế giới.
Loài cà tím có nhiều giống khác nhau, từ quả tròn, hình trứng, hình dái dê và máu sắc từ trắng, xanh, vàng và tím (hay nâu).

Các khu vự trồng nhiều cà tím trên thế giới (màu xanh lá cây)

Mô tả

Cà tím là cây thân thảo một năm.
-Thân: Thân cao 50 -150 cm, thông thường có gai.
-Lá: Lá lớn có thùy thô, dài từ 10-20 cm và rộng 5-10 cm.
-Hoa: Hoa màu trắng hay tía, với tràng hoa năm thùy và các nhị hoa màu vàng.
-Quả: Quả là loại quả mọng nhiều cùi thịt, đường kính nhỏ hơn 3 cm ở cây mọc hoang dại, nhưng lớn hơn rất nhiều ở các giống trồng.
-Hạt: Quả chứa nhiều hạt nhỏ và mềm.
Các giống hoang dại có thể có lớn hơn, cao tới 2,25 m (84 inch) và lá to (dài tới trên 30 cm và rộng trên 15 cm). Tên gọi cà tím không phản ánh đúng loại quả này, do có nhiều loại cà khác cũng có màu tím hay quả cà tím có màu đôi khi không phải tím.
Tuy nhiên, tên gọi cà dái dê cũng không phản ánh đúng hình dạng của quả, do quả của nhiều giống cà tím (cà dái dê) không phải ôvan thuôn dài như dái dê mà lại tròn, có đường kính từ 5 cm đến 8 cm.

Quả cây cà tím

Thành phần dinh dưỡng

+Theo phân tích của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) thành quần dinh dưỡng trong 100 gam quả cà tím có chứa các thành phần dinh dưỡng như sau:

Giá trị dinh dưỡng trên 100 g (3,5 oz)
102 kJ (24 kcal)
5,7 g
2,35 g
3,4 g
0,19 g
1,01 g
0,039 mg (3%)
0,037 mg (3%)
0,649 mg (4%)
Pantothenic acid (B 5 )
0,281 mg (6%)
0,084 mg (6%)
Folate (vit. B 9 )
22 mg (6%)
2,2 mg (3%)
9 mg (1%)
0,24 mg (2%)
14 mg (4%)
0,25 mg (12%)
25 mg (4%)
230 mg (5%)
0,16 mg (2%)
Tỷ lệ phần trăm so với khuyến nghị cho người lớn của Hoa Kỳ.

+Theo các nguồn phân tích khác
Cà tím rất giàu dinh dưỡng, trong thành phần của cà tím có 92% nước, 5,5% glucid, 1,3% protid, 0,2% lipid. Các khoáng chất (tính theo mg/100g) gồm: kali 220 mg, phốt pho 15 mg, magiê 12 mg, calcium 10 mg, lưu huỳnh 15 mg, clor 15 mg, sắt 0,5 mg, mangan 0,2 mg, kẽm 0,2 mg, đồng 0,1 mg, iod 0,002 mg. Các vitatmin B1, B12, PP rất ít, nhiều chất nhầy. Vì lượng chất nhầy này mà cà tím còn có tác dụng hỗ trợ rất điều trị bệnh dạ dày. Chính vì vậy mà người Hàn Quốc thường dùng cà tím phơi khô làm thuốc giảm đau, trị sưng khớp, loét dạ dày còn người Nigeria thường dùng cà tím để chữa đau bụng do tiêu hóa.
Trong cà tím còn chứa nightshade soda, một chất có tác dụng chống ung thư theo các chuyên gia Nhật Bản thì trong nước ép cà tím có nhiều hoạt chất có khả năng ngăn ngừa ung thư dạ dày.

Công dụng

a- Quả cà tím được dùng làm rau
+Ở Việt Nam
1-Quả cà tím được dùng làm rau ăn sống trực tiếp
Đây là cách chế biến món ăn đơn giản nhất ở các nước Châu Á. Quả cà vừ phát triển đẩy sức (không quá già) được gọt vỏ (hoặc không cần gọt), xẻ bổ dọc hoặc xắt mỏng theo lát ngang dùng làm rau chấm với mắm, nước thịt hoặc cá kho.

Món cà tím sống


Món cà tím nướng


Món cà tím xào


Món cà tím dồn thịt chiên


Món lẫu cà tím

2-Quả cà tím dùng để luộc, hấp cơm.
Quả cà được gọt vỏ hoặc không cần gọt, bổ dọc thành nhiều mảng, dùng để luộc hoặc hấp cơm, món này được chấm với nước chấm hay nướt thịt, cá kho để ăn với cơm.
3-Quả cà tím dùng để nướng
Quả cà còn nguyên vỏ, nướng trong bếp than hoặc lò ga, khi quả cà chín mềm, bốc lớp vỏ, có thể dầm với nước mắm tỏi, ớt, mỡ, hành là món ăn với cơm rất hấp dẫn.
4-Quả cà tím dùng để xào, nấu canh
Quả cà tím bổ dọc hoặc thái lát mỏng dùng để xào, nấu canh như các loại rau ăn quả khác thuộc họ cà hay họ bầu, bí.
5-Quả cà tím dùng để kho
Quả cà tím thái lát hoặc bổ dọc và xắt khúc để kho với thịt, cá để ăn với cơm.
+Ở nước ngoài
Cà tím được sử dụng trong các món ăn của nhiều quốc gia. Nó thường hầm, như trong món “ratatouille” ở Pháp, hoặc để chiên như trong món “parmigiana di melanzane” ở Ý, trong món “musakka / moussaka” ở Thổ Nhĩ Kỳ Hy Lạp, trong món “karnıyarık” ở Trung Đông và Nam Á.
Cà tím cũng có thể được đập trước khi chiên để ăn với một loại nước sốt chua  “tahini” được làm từ me. 
Trong ẩm thực Iran, cà tím pha trộn với sữa như trong món “kashk e-bademjan”, nấu chung với cà chua như món “mirza ghasemi” hoặc được hầm như món “khoresh-e-bademjan”.
Ở Thổ Nhĩ Kỳ món cà tím thái lát chiên để ăn với sữa chua như món “patlıcan kızartması” (có nghĩa là: cà tím chiên) hoặc không có sữa chua như trong món “patlıcan şakşuka”. Có lẽ nổi tiếng nhất trong món cà tím Thổ Nhĩ Kỳ là  “Imam bayıldı” (ăn chay) và món “Karnıyarık” (với thịt băm nhỏ).
Ở Trung Đông, Hy Lạp và Ấn Độ cũng có món cà tím nướng được dầm nát với nước chấm có vị chua ngọt để ăn với cơm hay kẹp bánh mì.
Ở Trung Quốc Cà tím được bổ dọc và dồn nhân thịt hấp cách thủy để ăn như món khai vị hay ăn với cơm.
Do tính chất linh hoạt cà tím trong chế biến món ăn hàng ngày và trong các lễ hội ở Ấn Độ, nó được mô tả là "vua của các loại rau" (dưới tên brinjal ). Trong đó có món “Bharli Vangi” gồm cà tím nhồi với dừa nạo, đậu phộng , hạt masala , và sau đó nấu chín trong dầu.
b-Các bộ phận cây cà tím dùng làm thuốc
+Theo Đông y:
Cà tím có vị ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tiêu viêm, thông mật, nhuận tràng, điều hòa tiêu hóa, thông tiểu…Tai của quả cà tím cũng dùng nấu lấy nước uống để chữa ung nhọt, lở loét.
Cà tím còn có tác dụng lợi tiểu, nhuận gan, đề phòng xơ vữa động mạch do tác dụng làm giảm cholesterol. Những người đi tiểu ra máu, đại tiện ra máu hay lỵ ra máu, có thể lấy rễ và cuống của quả cà tím nấu lấy nước uống.
+Theo Tây y:
Một nghiên cứu năm 1998 tại Viện Sinh học của Đại học Tiểu bang São Paulo, Brazil, tìm thấy nước trái cây từ cà tím làm giảm cân đáng kể đáng kể, làm giảm  cholesterol trong huyết tương, và giảm hàm lượng cholesterol trong động mạch chủ trong (hypercholesterolemic) ở thỏ. 
Kết quả của một nghiên cứu năm 2000 trên người cho biết truyền dịch cà tím (S. melongena) đã có tác động khiêm tốn và tạm thời, không khác nhau từ chế độ ăn uống và tập thể dục.
Cà tím có nhiều chất xơ và cho ít năng lượng, nên đã trở thành một loại thực phẩm chức năng dành cho người có bệnh đái tháo đường. Qua công trình nghiên cứu của Viện Đại học Massachusetts (Mỹ), chất chiết từ Cà tím có tác dụng ức chế men α - amylase tuỵ và α - glucosidase là 2 men có tác dụng thoái biến tinh bột và chuyển hoá thành glucose. Do đó, Cà tím có vai trò trong phòng bệnh đái tháo đường vì đã làm chậm quá trình tạo đường và hấp thụ đường, hạn chế được lượng đường huyết sau bữa ăn.
Một nghiên cứu năm 2004 trên con người tại Viện Tim Đại học São Paulo cho thấy cà tím không có tác dụng và đã khuyên bạn không nên dùng cà tím như là một cách thay thế cho loại thuốc làm giảm cholesterol “statins”. 
Trong các nghiên cứu của Tây y cho biết trong quả cà tím có chứa chất Nicotine, so với các loại rau thì trong cây cà tím có hàm lượng Nicotine cao hơn cả, với nồng độ 0,01 mg trong 100 g. Tuy nhiên ăn cà tím không bị ảnh hưởng của chất Nicotine so với những người hút thuốc lá. Trung bình, 9 kg cà tím chứa lượng nicotine chỉ bằng một điếu thuốc lá.
Một nghiên cứu năm 2008 trên mẫu của 741 người ở Ấn Độ, nơi cà tím được dùng phổ biến, được tìm thấy gần 10% báo cáo một số triệu chứng dị ứng sau khi tiêu thụ cà tím, trong khi 1,4% cho thấy các triệu chứng trong vòng chưa đầy hai giờ. Hiện tượng viêm da từ lá cà tím  và dị ứng với phấn hoa hoa cà tím cũng đã được báo cáo.
Một vài protein trong cây cà tím được báo cáo là chất chuyển hóa đã được xác định là chất có tiềm năng gây dị ứng. Khi đã nấu chín vẩn còn tồn tại một số chất protein gây dị ứng.

Một số bài thuốc từ cây cà tím

Dưới đây là một số món ăn, bài thuốc về cà tím:
1-Trị viêm gan, táo bón
Cà tím cắt dọc, tỏi và gừng giã nhuyễn, 3 thứ trộn với nước tương, dầu, muối, đường, đem chưng cách thủy để ăn hoặc cà tím trộn gạo đem nấu cơm dùng trong 5- 7 ngày đối với chứng viêm gan. Hấp cà tím (nửa kg) chấm với gừng tươi (4 lát), tỏi (tép) ăn lạt để trị táo bón. (theo Lương y Hoài Vũ).
2-Giảm mỡ
Dùng cà tím nấu canh gà.
Cách làm: Gà tơ 1 con, cà tím 200g, vị thuốc sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu ăn, gia vị. Gà làm sạch, bỏ nội tạng, cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc. Bắc chảo lên bếp, cho dầu vào đến khi nóng thì cho gừng, hành vào phi thơm, cho gà vào xào sơ qua. Tiếp đó, đổ nước vào, cho cà, sơn tra, gia vị vào, nấu với lửa lớn đến sôi, rồi hạ lửa nhỏ nấu thêm đến chín nguyên liệu. Mỗi ngày dùng một lần, có tác dụng tiêu thực, giảm mỡ. (theo Lương y Hoài Vũ).
3-Hạ huyết áp
Dùng 3 quả cà tím, thịt heo nạc xay 200g, nước sốt cà chua 15 ml, dầu ăn, gia vị. Cà tím bổ làm đôi theo chiều dọc, bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo nước. Sau đó nhồi nhân thịt heo (đã trộn gia vị), đem rán vàng, phi hành, rồi cùng sốt cà chua để om quả cà tím. Hoặc dùng cà tím 200g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10g, dầu mè, nước tương. Cà rửa sạch, cắt miếng, hành cắt khúc, gừng cắt lát, tỏi bỏ vỏ.
Bắc chảo nóng cho dầu vào, khi dầu nóng bỏ gừng, hành phi thơm, rồi cho cà vào trộn đều, cho nước vào, nêm gia vị xào đến chín. Mỗi ngày ăn một lần. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ áp huyết. (theo Lương y Hoài Vũ).
4-Phòng ngừa ung thư
Cà tím 2 quả, cắt khúc, thịt ba chỉ 150g cắt miếng, rau tía tô, rau mùi tàu, lá lốt thái nhỏ, hành cắt khúc, tỏi thái nhỏ, cùng gia vị. Sau khi nấu cà cùng thịt chín mềm thì cho các nguyên liệu trên vào, nêm nếm gia vị, đảo đều, lấy ra ăn nóng. (theo Lương y Hoài Vũ).
5-Thông tiểu, tăng thải urê và acid uric
Ăn nhiều thịt (nhất là thịt đỏ, lòng, hải sản…) sẽ làm tăng urê- huyết. Chất purine có trong các loại thực phẩm này sẽ tích tụ gây bệnh Gout (thống phong) với triệu chứng sưng khớp. Ăn thường xuyên cà tím sẽ tăng bài tiết nước tiểu, thải bớt urê ra khỏi cơ thể. Các cơn sưng nóng khớp sẽ thưa dần. (theo Lương y Hoài Vũ).
6-Chữa viêm gan vàng da
Cà tím 300g, gạo 50g. Cà tím cắt nhỏ nấu với gạo thành cháo, ăn liên tục trong vài ngày. (theo thuocnam.vn).
7-Chữa viêm phế quản cấp, táo bón
Cà tím 500g, gừng tươi 4 lát, tỏi 3 củ. Cà thái dọc, tỏi và gừng nghiền nhuyễn. Tất cả trộn với nước tương, dầu, muối, đường, chưng cách thủy để ăn. (theo thuocnam.vn).
8-Chữa bệnh cao huyết áp: Lấy vỏ cà tím hong khô và nghiền nhỏ. Mỗi ngày nên uống một thìa cà phê trước khi ăn. (theo thuocnam.vn).
9-Chữa đi tiêu, tiểu ra máu
Sắc cà tím cả cuống để uống. (theo thuocnam.vn).
10-Muốn răng và lợi vững chắc nên thực hiện liệu pháp sau
1 thìa vỏ cà tím sấy khô, nghiền nhỏ, đổ thêm nước và đun sôi lấy nước cốt. Sau đó, pha thêm một thìa nhỏ muối và súc miệng. (theo thuocnam.vn).
11-Cà tím lại chứa nhiều kali nên đã giúp hạ huyết áp cao
Theo Liz Applegate, Cà tím có tác dụng tốt cho tim hoạt động. Các nhà khoa học đã xác minh chất nasunin trong Cà tím có khả năng hạ thấp lượng cholesterol trong máu. Cà tím lại chứa nhiều kali nên đã giúp hạ huyết áp cao. (theo thuocnam.vn).
12-Phòng chống ban tía ở người già
Ở tuổi 60 -70, người già thường xuyên bị tình trạng ứ huyết nổi ban tía hay từng chấm trên mặt, tay, có khi phải nhìn kỹ mới thấy. Để khắc phục bệnh lý này nên ăn Cà tím. Cà tím lại mềm nên người già dễ ăn, dễ tiêu. (theo thuocnam.vn).

Những tiến bộ mới trong nghề trồng cà tím

a-Kỹ thuật ghép cà chua trên cà tím ở Việt Nam
1.Thời vụ ghép: Gieo hạt cà tím từ ngày 5 - 6 đến 20 - 6, gieo hạt cà chua từ ngày 16 - 6 đến 30 - 6 (gieo hạt cà chua sau cà tím 10 ngày), trồng cây đã ghép vào cuối tháng 7 đầu tháng 8.
+ Gieo hạt: Gieo hạt cà tím vào khay hoặc túi bầu có kích thước 6x9x7 cm, hỗn hợp trong bầu gồm 70% đất màu trộn đều với 30% phân chuồng ủ mục, 1m3 hỗn hợp trộn thêm 5 kg lân super, hạt cà chua gieo gần nơi gieo hạt cà tím để thuận tiện cho việc ghép sau này. Gieo 2-3 hạt cà tím 1 lỗ. Tưới đủ ẩm đến khi cây mọc đều. Giai đoạn cây con cần phun phòng sâu vẽ bùa, bọ phấn trắng truyền bệnh xoăn lá và bệnh lở cổ rễ bằng Regent 1% và Benlat C 10% định kỳ 5 ngày 1 lần.
+ Ghép cây: Khi cây cà tím có 4-5 lá thật, cao 15 - 18 cm, cây cà chua có 3-4 lá thật, cao 12-15 cm thì tiến hành ghép. Dùng dao lam cắt vát 30 độ thân cây cà tím phía trên 2 lá mầm, có thể chọn vị trí nào đó để cắt thân cà tím cho tương xứng với đường kính thân cây cà chua, cắt thân cà chua góc 30 độ dưới lá thật, dùng ống cao su có đường kính 2-3 mm giữ gốc ghép và ngọn ghép áp sát 2 mặt vát vào nhau.
2. Chăm sóc cây sau ghép: Để cây đã ghép vào nhà che kín bằng ni-lông trong suốt, ngoài phủ lưới đen để giảm bớt cường độ ánh sáng, giữ ẩm cho cây ghép bằng cách phun mù 2 tiếng một lần nếu trời nắng to. Giữ cây ghép trong nhà một tuần. Khi vết ghép đã liền, đưa cây ra nhà có mái che sáng để cây quang hợp trong 3-4 ngày thì có thể trồng ra đồng.
Tỷ lệ cây sống sau ghép là 90- 95%. Khi trồng cà chua ghép thì chăm sóc theo quy trình trồng cà chua bình thường. Cà chua ghép trồng trong vụ hè thu do nhiệt độ cao làm cho đậu quả kém, cần phun hoóc-môn đậu quả là dung dịch CPA (4- clorophenoxy axetic axit) khi cây có hoa, 2 ngày phun 1 lần vào buổi chiều mát lên các chùm nụ sắp nở.
Lưu ý ! Không vun cao cây cà chua ghép quá vết ghép, vì cà chua ra rễ phụ ở vết ghép làm mất tác dụng chống bệnh và chống úng của gốc ghép.
Nguồn: Khuyennongbacgiang

Trồng cây cà tím ở Việt Nam
b- Giống cà tím biến đổi gen
Giống cà tím biến đổi gen có tên là “Bt brinjal” là một giống cà tím được chèn một gen từ loài vi khuẩn từ đất có tên là Bacillus thuringiensis (BT). Giống cà tím biến đổi gen này có tác dụng kháng lại các loài sâu cánh vãy hại lá cà, loài sâu đục thân cà (Leucinodes orbonalis) và sâu đục trái cà (Helicoverpa armigera). Giống cà biến đổi gen “Bt brinjal” đang được trồng phổ biến ở Hoa Kỳ và Nam Mỹ.
Ngày 09/2/2010, Bộ trưởng Bộ Môi trường Ấn Độ Jairam Ramesh, áp đặt một lệnh cấm tạm thời việc trồng cà tím Bt. Quyết định của ông đã được thực hiện sau khi có phản đối từ một số nhóm trả lời chấp thuận pháp lý của việc trồng cà tím Bt trong tháng 10/2009. Ramesh nói: “ Lệnh cấm sẽ kéo dài cho đến khi nào nó là cần thiết để tạo lòng tin của công chúng và được công chúng Ấn Độ chấp thuận”.

                                                                        Kỹ sư Hồ Đình Hải
Tài liệu tham khảo
6-http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/…/Ca-tim-tri-viem-gan-tao-bon.aspx

Xem Video: Công dụng của quả cà tím


Xem Video: Lợi ích của cà tím