Rau má


RAU MÁ

Cây rau má (Centella asiatica)
-Tên gọi khác: Tích tuyết thảo, lôi công thảo , liên tiền thảo.
-Tên tiếng Anh: Centella.
-Tên khoa học: Centella asiatica (L.) Urban.
-Tên đồng nghĩa: Hydrocotyle asiatica L , Trisanthus cochinchinensis Lour. 

1-Phân loại khoa học

Giới (regnum):
Thực vật (Plantae).
Bộ (ordo):
Hoa tán (Apiales).
Họ (familia):
Hoa tán  (Apiaceae).
Phân họ (subfamilia):
Mackinlayoideae
Chi (genus):
Rau má (Centella).
Loài (species):
Centella asiatica (L.) Urban

2-Phân bố

Rau má hay tích tuyết thảo hoặc lôi công thảo hoặc liên tiền thảo (danh pháp khoa học: Centella asiatica) là một loài cây thân thảo một năm trong phân họ Mackinlayoideae  của họ Hoa tán (Apiaceae hay Umbelliferae), có nguồn gốc Australia, các đảo Thái Bình Dương, New Guinea, Melanesia, Malesia và Châu Á. Chi Rau má40 loài.
Tên khoa học đồng nghĩa là Hydrocotyle asiatica L., Trisanthus cochinchinensis  Lour.
Loài thực vật nầy mọc lan trên mặt đất có lá trông giống như những đồng tiền tròn được xếp nối tiếp nhau nên còn gọi là Liên tiền thảo. 
Rau má là một loài rau dại  ăn được thường mọc ở những nơi ẩm ướt như thung lủng, bờ mương thuộc những vùng nhiệt đới như Việt nam, Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Srilanka, Ấn độ, Pakistan, Madagascar…
Ở Việt Nam có nhiều loài rau má mọc hoang dại bên dưới các tán lá của vườn cây hoặc theo bờ ruộng. Vài giống được thuần hóa để trồng ở những vùng rau chuyên canh thuộc tỉnh Tiền Giang và TP Hồ Chí Minh. Ngoài ra giống rau má Tây Phi cũng được nhập nội và trồng ở một số tỉnh vùng ĐBSCL.

3-Mô tả

-Thân cây rau má gầy và nhẵn, là loại thân bò lan trên mặt đất, màu xanh lục hay lục ánh đỏ.
-Rễ gồm có rể gốc dạng chùm và các rể đốt mọc ở đốt thân ngay gốc lá. Rể có màu trắng kem và được che phủ bằng các lông tơ ở rễ.
-Lá có hình tròn hoặc hình thận, màu xanh với cuống dài mọc ra từ gốc hoặc từ các đốt thân và phần đỉnh lá tròn, kết cấu trơn nhẵn với các gân lá dạng lưới hình chân vịt. Lá có mép khía tai bèo. Các lá mọc ra từ cuống dài khoảng 5-20 cm.
-Hoa rau má có màu từ trắng, ánh hồng tới đỏ, mọc thành các tán nhỏ, tròn gần mặt đất. Mỗi hoa được bao phủ một phần trong 2 lá bắc màu xanh. Các hoa lưỡng tính này khá nhỏ (nhỏ hơn 3 mm), với 5-6 thùy tràng hoa. Hoa có 5 nhị và 2 vòi nhụy.

Hoa rau má
-Quả có hình mắt lưới dày dặc, đây là điểm phân biệt nó với các loài trong chi Hydrocotyle có quả với bề mặt trơn, sọc hay giống như mụn cơm. Quả của nó chín sau 3 tháng và toàn bộ cây, bao gồm cả rễ, được thu hái thủ công.
-Hạt: Cây rau má có hạt để phát tán, trong tự nhiên cây sinh sản vô tính bằng nhảy chồi là chủ yếu.

4-Thành phần hóa học

Tuỳ theo khu vực trồng hoặc mùa thu hoạch tỷ lệ các hoạt chất có thể sai biệt.  Thành phần của rau má bao gồm những chất sau: beta caroten, sterols, saponins, alkaloids, flavonols, saccharids, vôi (calcium), sắt (iron), ma nhê (magnesium), măng gan (manganese), lân (phosphorus), kali (potassium), kẽm (zinc), các loại vitamins B1, B2, B3, C và K.
Theo tài liệu của Viện vệ sinh dịch tể Việt Nam -1972, trong cây rau má có các thành phần như sau: nước 82,2 %; protein 3,2%; glucid 1,8%; cellulose 4,5%; khoáng toàn phần 2,3%. Trong đó Ca 29mg%, P 2,4mg%; các vitamin gồm; vitamin C 37mg%. Rau má cung cấp cho cơ thể 21 calo/100g rau tươi.

5-Công dụng

a-Dùng làm rau

Ở Việt Nam, rau má được dùng như một loại rau sạch với nhiều cách chế biến:
1-Dùng làm rau sống: Đọt non, lá cả cuống rau má được dùng làm rau ăn sống như một dạng rau ghém riêng hoặc dùng chung với một số rau rừng khác. Rau má tươi được chấm với mắm kho, thịt, cá kho, tương, chao…Rau má tươi còn được dùng  để ăn với cháo và nhúng lẩu.
2-Dùng làm rau luộc: Thân lá rau má luộc khi ăn cơm chấm với các loại nước cá, thịt kho.
3-Dùng làm rau xào: Thân, lá rau má non dùng xào với thịt, hải sản.
4-Dùng nấu canh rau:Rau má nấu canh với cá đồng, thịt bầm, tôm, cua…

b-Dùng nước rau má như một loại thức uống giải khát

Nước ép rau má là một cách sử dụng rau má đơn giản và thông dụng nhất.  Nước ép rau má tươi có đầy đủ các hoạt chất dinh dưỡng và dược liệu. Mỗi người, mỗi ngày có thể dùng từ 30 đến 40 gam rau má tươi.  Lá rau má mua về rửa sạch, giả hoặc xay nát.  Cho thêm một ít nước vào.  Vắt và lọc bỏ xác, thêm vào một ít đường cho dễ uống.
Các tiệm giải khác có bán sinh tố rau má xay với đậu xanh là thức uống bổ dưỡng.

Nước ép rau má thường dùng ở Việt Nam

c-Rau má được dùng làm thuốc

c-1-Theo truyền thuyết
-Rau má được cho là đã làm nên sự trường thọ của một võ sư môn Thái Cực Quyền là Lý Thanh Vân  (Trung Quốc). Người ta nói rằng ông đã sống thọ tới 256 tuổi, một phần là do sử dụng các loại thảo dược Trung Hoa truyền thống, trong đó có rau má.
-Một câu chuyện dân gian tại Sri Lanka kể lại rằng một vị vua nổi tiếng trong thế kỷ thứ 10 với tên gọi Aruna đã cho rằng rau má cung cấp cho ông sức khỏe và sức chịu đựng đủ để thỏa mãn 50 phi tần của mình.
Những huyền thoại nầy có lẽ đã bắt nguồn từ giá trị dưỡng âm, chống lão hoá và làm tăng cường hệ miển dịch của những hoạt chất có trong rau má. 
c-2-Theo y học cổ truyền phương Đông
Nền y học cỗ truyền Trung quốc , Ấn Độ cũng như y học dân gian Việt Nam đều có truyền thống sử dụng rau má làm làm thức ăn hoặc làm thuốc từ lâu đời. 
-Theo Trung y, rau má có tính hàn (lạnh), tân (cay), khổ (đắng). Khi ăn ở dạng tươi như một loại rau, người ta cho rằng nó giúp cho việc duy trì sự trẻ trung. Nước sắc từ lá rau má được coi là có tác dụng hạ huyết áp. Loại nước sắc này cũng được coi là một loại thuốc bổ dưỡng để có sức khỏe tốt (tăng trí nhớ, thị lực). Loại thuốc đắp từ lá cũng được dùng để điều trị những chỗ đau, hạ sốt. Nó còn được dùng trong điều trị các chứng phù; viêm thanh quản, tĩnh mạch, phế quản; các bệnh trĩ, phong, eczema hay vẩy nến; giải ngộ độc sắn và lợi tiểu.
-Ở Ấn Độ, rau má còn được gọi là Brahmi hàm nghĩa một loại dược thảo có thể giúp con người tiến đến sự hoà hợp với tâm thức vũ trụ (knowledge of the Supreme Reality).  Do đó, rau má thường có trong khẩu phần ăn của những vị thiền sư, những nhà yoga và những nhà thông thái. 
Dược phẩm từ cây rau má của Ấn Độ
-Theo y học cỗ truyền Việt Nam, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, vào Can, Tỳ Vị  có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu.  Rau má thường dùng để làm thuốc bổ dưỡng, sát trùng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch đới, mụn nhọt, rôm sẩy. 
Rau má là một loại rau thông dụng có tác dụng sát trùng giải độc, thanh nhiệt lương huyết. Ngoài ra, rau má cũng là một loại dược thảo có tính bổ dưỡng rất cao,có nhiều sinh tố, khoáng chất, những chất chống oxy hoá, có thể dùng để dưỡng âm, cải thiện trí nhớ, làm chậm sự lão hoá, cải thiện vi tuần hoàn và chữa nhiều chứng bệnh về da.Trong Đông y rau má thường được phối hợp với đậu đen hoặc mè đen chế thành hoàn để làm thuốc bổ dưỡng cho trẻ em, người già hoặc người ốm mới khỏi.
c-3-Theo tây y
Từ những năm 1940, y học hiện đại bắt đầu nghiên cứu những tác dụng của rau má.  Rau má có những hoạt chất thuộc nhóm saponins (còn được gọi là tripernoids) bao gồm asiaticoside, madecassoside, madecassic acid và asiatic acid.  Hoạt chất asiaticoside đã được ứng dụng trong điều trị bệnh phong và bệnh lao.  Người ta cho rằng trong những bệnh nầy, vi khuẩn dược bao phủ bởi một màng ngoài giống như sáp khiến cho hệ kháng nhiểm của cơ thể không thể tiếp cận.  Chất asiaticoside trong dịch chiết rau má có thể làm tan lớp màng bao nầy để hệ thống miển dịch của cơ thể tiêu diệt chúng. 
Một vài báo cáo khoa học cho thấy khả năng của rau má trong việc hỗ trợ làm lành vết thương. Khi điều trị bằng rau má, sự liền sẹo được kích thích bằng việc sản xuất ra các chất keo loại I. Việc điều trị này cũng cho thấy sự giảm sút đáng kể của các tác động viêm nhiễm và việc tạo ra các nguyên bào sợi.
Các nhà thảo mộc học còn cho rằng nó có chứa nhân tố trường thọ gọi là 'Vitamin X trẻ trung' có tác dụng bổ dưỡng cho não và các tuyến nội tiết và xác nhận rằng nước chiết từ rau má giúp cải thiện các vấn đề về hệ tuần hoàn và da.
Đối với da, nhiều công trình nghiên cứu và kết quả lâm sàng đều cho thấy dịch chiết rau má có khả năng kích hoạt các tiến trình sinh học trong việc phân chia tế bào và tái tạo mô liên kết giúp vết thương chóng lành và mau lên da non.  Hiên nay rau má đã được sử dụng rất đa dạng dưới hình thức thuốc tiêm, thuốc bột, thuốc mỡ để điều trị tất cả các chứng bệnh về da như vết bỏng, vết thương do chấn thương, do giải phẩu, cấy ghép da, những vết lở lâu lành , vết lở do ung thư, bệnh phong, vẩy nến…
Nền y học hiện đại đã chiết xuất lấy hoạt chất từ rau má làm thuốc chống sẹo lồi, làm vết thương mau lành, giảm bớt chứng giãn tĩnh mạch chi dưới... Tuy lấy từ rau má nhưng loại thuốc này khá đắt vì phải qua nhiều công đoạn chế biến khá phức tạp.
Cần lưu ý là các hoạt chất nằm ở trong chất xơ (cellulose) của rau má, nếu chúng ta chỉ giã vắt lấy nước thì sẽ mất đi các hoạt chất này. Một số công trình nghiên cứu cho thấy các chất xơ có thể "kéo" cholesterol ra khỏi cơ thể, vì vậy nếu ăn các loại rau có nhiều chất xơ sẽ giúp cơ thể đào thải dần lượng cholesterol ra khỏi cơ thể.   
Trên thực tế, rau má  tác dụng lên hoạt động của hệ thần kinh trung ương, làm giảm căng thắng tâm lý, tăng cường khả năng tập trung tư tưởng và giúp cải thiện trí nhớ của người già.  Người ta cho rằng dịch chiết rau má có hiệu quả tốt với bệnh Alzheimer nhờ vào những dẫn xuất của chất Asiaticoside  có khả năng bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi tác động của các độc tố beta-amyloid.
Đối với tuần hoàn huyết, những hoạt chất của rau má có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn ở các tĩnh mạch, mao mạch, bảo vệ lớp áo trong của thành mạch và làm gia tăng tính đàn hồi của mạch máu.  Do đó rau má cũng thường được dùng trong các chứng tăng áp lực tĩnh mạch ở các chi dưới.
Hiện nay, nhiều khu vực nói tiếng Anh còn lưu truyền câu tục ngữ khuyến khích dùng rau má “Two leaves  a day keep old age away”(Dùng 2 lá một ngày sẽ giúp bạn xa lánh tuổi già).Trong những năm gần đây, nhiều phương tiện thông tin đã phổ biến cách chữa bệnh thấp khớp mãn tính bằng cách ăn 2 lá rau má tươi mỗi ngày. 
Một chương trình phóng sự của đài truyền hình số 9 ở Sydney vào tháng 12/2003 cũng cho biết một số người ở Úc đã chữa khỏi bệnh thấp khớp bằng cách nầy.  Phương pháp nầy phát xuất từ quyển sách “Arthritis and Paradoxycal Pennywort” (Bệnh thấp khớp và lá rau má) của ông Russ Maslen.  Ông đã học được kinh nghiệm chữa bệnh nầy từ một nông dân ở Brunswick Valley (Úc) vào khoảng năm 1989 khi ông đang tiến hành xây dựng và quản lý công viên bảo tồn di sản thiên nhiên ở vùng nầy.  Sau đó chính ông đã hướng dẫn vợ ông tên là Beryl chữa khỏi chứng sưng đau các khớp xương ở bàn tay.  Ông nói “Mỗi ngày chỉ cần nhai và nuốt 2 lá rau má liên tục , chỉ 2 lá chớ không phải một hay ba lá , thì một thời gian sau sẽ có thể chữa khỏi hoặc làm giảm bớt bệnh thấp khớp”. 
Đơn giản đến khó tin!  Phải chăng  hiệu quả chữa bệnh  ở đây là do ảnh hưởng của rau má hoặc những dẫn xuất của nó trong tác dụng chống viêm, chống oxy hoá hoặc tăng cường hệ miển dịch của cơ thể?  Hy vọng nhiều năm sau khoa học sẽ làm sáng tỏ điều nầy.  Điều cần lưu ý trong việc dùng rau má để chữa bệnh thấp khớp là không được dùng quá liều lượng cần thiết.  Dùng bao nhiêu lá phải nằm trong giới hạn dung nạp và chuyển hoá của Tỳ vị. 
Mặc dù rau má không độc nhưng lại có tính “hàn” nên có thể làm tăng tính “thấp” trong bệnh thấp khớp làm bệnh nặng thêm.  Ngược lại, nếu chỉ dùng vài lá mỗi ngày, ai cũng có thể dùng và dùng lâu dài mà không sợ có phản ứng phụ.

6-Một số bài thuốc đông y từ cây rau má

1-Toa căn bản gồm rau má và các cây thuốc nam khác:
Toa căn bản ra đời vào khoảng năm 1950 do cụ Võ văn Hưng, một lương y giàu kinh nghiêm ở miền Đông Nam bộ soạn. Sau đó toa căn bản được Bác sĩ Nguyển văn Hưởng, Bộ trưởng Bộ Y tế thời bấy giờ hưởng ứng và khuyến khích sử dụng. 
 Toa căn bản gồm 10 vị là toa thuốc rất quen thuộc ở các Bệnh viện, trạm y tế từ bộ đội đến nhân dân, đã góp phần rất lớn trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong suốt 2 thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. 
Toa căn bản có đặc điểm là không có độc tính, dễ sử dụng, có tác dụng kích thích tiêu hoá, nhuận gan, nhuận trường, lợi tiểu, giải độc và tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Tuỳ theo tình trạng của người bệnh và điều kiện của địa phương mà linh động gia giảm vị thuốc hoặc liều thuốc.
Toa thuốc căn bản gồm:
-Rau má 8g, Rể tranh 8g, Lá muồng trâu 4g, Cỏ mần chầu 8g, Cỏ mực 8g, Cam thảo nam 8g, Ké đầu ngựa 8g, Củ sả 4g, Gừng tươi 4g, Vỏ quít 4g.
Đổ 3 chén nước sắc còn non một chén, uống lúc thuốc còn ấm.
2-Hoàn ích khí, dưỡng âm, trợ cơ, cứu đói:
Có thể làm thuốc bổ dưỡng cho trẻ em, người già hoặc ngưòi ốm mới khỏi hoặc dùng làm lương khô mang theo khi đi xa phòng khi thiếu thốn thực phẩm.
Toa thuốc gồm 4 vị :
-Lá dâu tầm,Mè đen, Bột củ mài và Rau má.
Mỗi vị ngang nhau, tán bột làm hoàn, mỗi hoàn khoảng 5g. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần 1 hoặc 2 hoàn.
3-Thoái nhiệt đơn:
Có công dụng giảm nhiệt, hạ sốt, trừ khát, trấn kinh.
Rau má 15%, Hoạt thạch 30%, Sắn dây 20%, Sài hồ 15%, Thạch cao 10%, Cam thảo 10%.Tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 4g.
4-Thuốc hạ huyết áp:
Rể nhàu 16g, Rể kiến cò 12g, Lá tre l2g, Rể tranh 12g,Rể cỏ xước 12g, Rau má 16g, Lá dâu 12g. Sắc uống hoặc đóng viên làm trà uống thay nước hàng ngày.
5-Sốt xuất huyết:
Rau má 20g, Cỏ mực 16g, Rau sam 16g, Đậu đen 16g.  Sắc uống.
6-Sốt, thổ huyết, chảy máu cam, tả lỵ, khí hư, bạch đới:
 Mỗi ngày dùng 30-40 g rau má tươi (cả cây) vò nát, vắt lấy nước hoặc sắc uống. 
7-Kiết lỵ, lậu nhiệt, tiểu tiện đục, sỏi thận, sỏi bàng quang:
Rau má tươi (cả cây) 30-40 g, rửa sạch, giã nhuyễn, vắt lấy nước, hòa thêm ít đường uống hằng ngày. Có thể luộc ăn như rau. 
8-Đau bụng, đau lưng khi hành kinh:
Rau má hái lúc mới ra hoa, rửa sạch, phơi khô, tán nhỏ. Ngày uống 2 thìa cà phê vào buổi sáng.
9-Chữa rối loạn cơ thể: toàn cây rau má có tác dụng tốt trên các cơ quan hấp thu, tiêu hóa, biến dưỡng và bài tiết, giúp duy trì hoạt động của các cơ quan này, chống lại quá trình gây viêm và còn có tác dụng như một thuốc tẩy nhẹ.
10- Giúp tăng trí nhớ: lá rau má sấy khô tán bột, uống chung với sữa mỗi ngày 3-5 gam sẽ có tác dụng tốt cho những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ và thị lực.
11-Chữa lỵ ở trẻ em: lấy 3-4 lá rau má sắc chung vài cọng thì là, thêm ít đường cho trẻ uống, cùng lúc giã vài lá rau má đắp lên rốn của trẻ.
12-Chữa suy nhược thần kinh: nghiền bột lá đã được phơi khô trong râm, uống mỗi ngày 30-60 gam, chia ba lần mỗi ngày cho người lớn và 7,5-25 gam cho trẻ em.
13-Giúp thanh lọc cơ thể phụ nữ: rau má nhổ cả rễ, phơi khô trong mát, xay thành bột. Mỗi ngày hai lần, sáng và chiều, mỗi lần 3 gam bột uống chung với sữa bò tươi, uống liên tục trong ba ngày ngay sau khi hết kinh. Món thuốc này còn chữa được các chứng đau bụng kinh. Nhờ tính thanh lọc này mà rau má giúp phụ nữ trẻ lâu, da dẻ hồng hào, khí huyết lưu thông tốt, phòng chống được nhiều bệnh tật.
14-Bệnh chân voi và viêm tinh hoàn: những người bị phù chân voi hoặc tinh hoàn bị sưng to, ép lấy dịch rau má tươi, pha thêm nước và bôi ngay lên các vùng bị sưng tấy.
15-Bệnh ngoài da: rau má được dùng chữa các bệnh ngoài da như chàm, ung nhọt, lở loét, phong và cả bệnh giang mai. Lấy bột lá khô hòa với nước đắp lên các vùng bị nhiễm kèm với uống dịch chiết rau má mỗi ngày ba lần, mỗi lần 1-5 giọt.
16-Tác dụng kháng khuẩn: chất asiaticosid có trong lá rau má còn có tác dụng làm tan màng sáp của một số vi khuẩn, nhờ đó gia tăng tác dụng kháng khuẩn của rau má.
* Cách dùng:
- Dạng nước sắc: 30-60ml, ngày ba lần.
- Dạng bột: 20-60gam, ngày ba lần.
- Dịch ép tươi: 60-100ml/ngày, dạng lá tươi: 50-100gam/ngày.
- Dân gian hay dùng làm rau ghém ăn sống, nấu canh, xay thành nước ép như sinh tố, dùng riêng hoặc chung với các loại rau quả khác.
 Lưu ý!
Rau má có tính lạnh nên những người có Tỳ Vị hư hàn, hay đầy bụng hoặc đi tiêu lỏng cần cẩn thận khi dùng.  Những trường hợp nầy chỉ nên dùng vài lá mỗi lần hoặc khi dùng kèm theo một vài lát gừng sống. Dùng ngoài da không giới hạn. Không nên dùng rau má quá nhiều vì có thể làm bệnh nhân say thuốc dẫn đến hôn mê.
Nguồn: theo Y học cổ truyền Việt Nam.
                                                                                                 Kỹ sư Hồ Đình Hải

           Xem Video: Cây rau má ở miền quê




          Xem video: Công dụng dược liệu của cây rau má





Lá cách


LÁ CÁCH

Cây cách
-Tên gọi khác: Vọng cách, Cách biển.
-Tên tiếng Anh: Creek Premna
-Tên khoa học: Premna serratifolia L.
-Tên đồng nghĩa: Premna corymbosa (Burm. f.) Rottl. et Willd.; P.integrifolia L.; P. obtusifolia R. Br.; P. integrifolia var. obtusifolia (R. Br.) P'ei; Cornutia corymbosa Burm.

Phân loại khoa học

Bộ (ordo):
Hoa môi (Lamiales).
Họ (familia):
Họ Cỏ Roi ngựa (Verbenaceae).
Phân họ (subfamilia):
Chi (genus):
Premna
Loài (species):
Premna serratifolia L.

Phân bố

Cây cách có nguồn gốc ở Châu Á, phát sinh từ Ấn Độ, Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Hiện nay cây cách phát triển rộng ở Châu Á, Châu Phi, Châu Úc và các đảo Thái Bình Dương.
Ở Việt Nam, cây cách mọc hoang và được trồng ở đồng bằng và vùng núi để lấy lá làm gia vị ăn gỏi cá. Rễ, lá có thể thu hái quanh năm. Lá lấy về, rửa sạch, phơi hay sấy khô hoặc sao vàng mà dùng làm thuốc.

Mô tả

-Thân: Là cây gỗ nhỏ thường cao 2-5 mét, phân nhánh nhiều, có khi mọc leo, thường có gai.
-Rể: Rể cọc, gồm rể cái và nhiều rể con ăn sâu vào đất.
-Lá: Có hình dạng và màu sắc rất thay đổi, hình trái xoan hay trái xoan bầu dục, gốc tròn hay hình tim, hơi bất xứng, chóp tù hay có mũi ngắn, dài tới 16 cm, rộng 12 cm hay hơn, rìa lá nguyên hoặc hơi khía răng ở phần trên, có ít lông ở dưới, nhất là trên các gân. Lá non có màu xanh nhạt, khi già màu xanh đậm.
-Hoa: Kích thước nhỏ, nhiều, màu trắng lục xám, họp thành ngù ở ngọn cây.
-Quả: Hình trứng, màu đen khi chín, rộng cỡ 3-4 mm, có 4 ô, mỗi ô chứa một hạt.
Cây cách thích nghi trên vùng nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Có thệ sống ngoài trảng nắng hay nơi có bóng râm nhẹ.

Thành phần hóa học

Toàn cây có mùi rất khó chịu nhưng lá có mùi thơm hơi hắc; còn rễ có vị đắng, nóng có mùi dễ chịu. Nó chứa một tinh dầu thơm và một chất màu màu vàng. Vỏ cây chứa 2 alcaloid là premnin và ganiarin. Premnin có tác dụng giống thần kinh giao cảm; nó làm giảm sức co của tim và làm dãn nở đồng tử.

Công dụng

a- Lá cách dùng như một loại rau
1-Dùng làm rau sống: Lá cách có mùi thơm hơi hắc, được trộn chung các loại rau sống khác. Lá cách sống thích hợp khi chấm mắm kho, cuốn với thịt nướng, thịt chiên, cá nướng. Đôi khi dùng làm rau nhúng lẩu.
2-Dùng làm rau luộc:Lá cách non dùng luộc chung với các loại rau khác làm tăng mùi thơm.
3-Dùng để xào: Lá cách non xắt nhuyễn dùng để xào với thịt trâu, bò, rắn, ếch, nhái, lươn… có khẩu vị rất ngon.


Ếch xào lá cách

Lươn um lá cách
b-Các bộ phận của cây cách dùng như bài thuốc
-Theo kinh nghiệm y học cổ truyền các nước Đông Nam Á dùng lá cách làm thuốc lợi thiểu, giải độc, trị ho, trợ tiêu hóa, lợi sữa, lợi kinh, trị kiết lỵ và thấp khớp. Liều dùng: cành lá khô 20 - 30 g (tươi 50 - 100 g) sắc uống.
-Cành Cách cỡ ngón chân cái, phơi héo rồi đun vào bếp than, đầu kia sẽ xì ra bọt nước, dùng để thoa lên vết chàm, dị ứng, vết lở loét và mụn nhọt cho mau lành.
-Ở Ấn Độ: Cây được dùng trị đau dây thần kinh, rễ dùng trị di chứng xuất huyết não. Lá được dùng trị cảm lạnh và sốt, trị đầy hơi và dùng dưới dạng xúp làm thuốc lợi tiêu hoá, gây trung tiện.
-Ở Indonesia: Người ta còn dùng cây trị bệnh đau gan, đau dạ dày và làm thuốc hạ nhiệt.
-Theo các nghiên cứu khoa học, thân, cành, lá Cách chứa alcaloid: premnin, granimin có tính cường giao cảm thần kinh, nghĩa là làm co mạch, tăng huyết áp, tiết nước bọt, nở đồng tử, tăng nhu động ruột, nở khí quản…cho nên khi uống nước sắc cành, lá Cách bạn cảm thấy hưng phấn, hết mệt mỏi, ăn ngon miệng và khỏe ra...
Tuy nhiên, mặc dù những nghiên cứu về độc tính cho thấy với liều uống 2 g trích tinh lá cách/kg cơ thể súc vật thí nghiệm không gây ngộ độc nào, nhưng ta chỉ nên dùng thuốc từ vài ba ngày đến vài tuần để trị bệnh rồi nghỉ chứ đừng uống thường xuyên có thể gây cao huyết áp, vì cây có tính cường trực giao cảm thần kinh.
-Tác dụng cường giao cảm thần kinh này của cây Cách cũng giải thích công dụng làm thuốc lợi sữa, lợi kinh, trị nhức mỏi, thấp khớp trong kinh nghiệm dân gian.
-Nước sắc cây Cách cũng có tính kháng sinh mạnh trong việc chống nhiễm trùng đường ruột, ngộ độc thực phẩm, lỵ trực trùng. Nước sắc đặc bôi mụt, nhọt ngoài da.
-Theo Y học cổ truyền Việt Nam, lá cách có vị ngọt, nhấn, tính mát, có tác dụng trợ tỳ can, mát gan, sáng mắt, tiêu độc, lợi tiểu. Rễ thông kinh mạch, tán ứ kết tê bại, lợi tiêu hoá.
-Từ năm 2008 các nhà khoa học thuộc Viện dược liệu, Viện khoa học công nghệ đã phối hợp cùng 2 trường Đại học Y và Dược Hà Nội tiến hành đề tài “Nghiên cứu tác dụng chống viêm của cao lỏng lá vọng cách trên thực nghiệm”, “Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây vọng cách thu hái ở Nam Định” (là Luận án tiến sỹ dược học Nguyễn Thị Bích Hằng – năm 2010).
Đây là những bằng chứng khoa học đầu tiên về tác dụng sinh học của loài cây này. Kết quả các nghiên cứu trên cho thấy lá vọng cách có tác dụng bảo vệ gan, chống viêm và giảm đau trên mô hình thực nghiệm với chuột. Cao lỏng lá vọng cách làm giảm men gan ALT, biểu hiện tổn thương gan giảm.
Kết quả của nghiên cứu này cũng đồng nhất với tác dụng bảo vệ gan.

Một số bài thuốc từ cây cách

1-Bài thuốc chỉ định và phối hợp: Được dùng trị phù do gan, xơ gan và trị lỵ. Còn dùng trị thấp khớp và làm thuốc lợi sữa. Ngày dùng 8-12g lá, đọt cây; rễ dùng với liều ít hơn ( theo Y học cổ truyền Việt Nam).
2-Chữa lỵ: Dùng lá Cách tươi 30g, giã nát, thêm nước sôi để nguội vào khuấy đều, vắt nước, thêm tí đường cho ngọt mà uống. Ngày dùng 30-40ml. Trẻ em dùng nửa liều của người lớn. Cũng có thể dùng lá khô với liều 10-15g mỗi ngày, sắc uống ( theo Y học cổ truyền Việt Nam).
3-Hậu sản vàng da: Dùng lá Cách phối hợp với thân, lá cây Nhân trần và thân, lá cây Cối xay, liều lượng bằng nhau 12g sắc nước uống ( theo Y học cổ truyền Việt Nam).
4-Chửa phong tê, thấp khớp,lợi sữa cho phụ nữ sinh con: Lá cách được dùng dưới dạng sắc uống. Mỗi ngày dùng 30-40g lá tươi hoặc 15-20g lá rễ (theo Y học cổ truyền  Ấn Độ).
5-Giải độc bia, rượu: Ăn nhiều lá cách non hoặc luộc, xào có tác dụng giải độc bia, rượu (theo kinh nghiệm dân gian Nam Bộ).
Lưu ý! Do tác dụng giả rượu, bia nên khi nhậu với đặc sản xào lá cách có thể làm tăng đô!
                                                                                             Kỹ sư Hồ Đình Hải

Xem video: Công dụng của cây cách




Măng tre


MĂNG TRE

Măng tre
Sản phẩm từ măng tre
Tên tiếng Anh: Bamboo, Bamboo plant , Bamboo tree.
Tên khoa học: Bambusa spp.

Phân loại khoa học

Bộ (ordo):
Hòa thảo (Poales).
Họ (familia):
Hòa hảo (Poaceae).
Phân họ (subfamilia):
Tre (Bambusoideae).
Liên tông (supertribus):
Siêu tông tre (Bambusodae).
Tông (tribus):
Tre (Bambuseae) gồm 9 phân tông, 1.000 loài.
Phân tông (subtribus):
Tre thực sự (Bambusinae). Gồm 10 chi,130 loài.
Chi (genus):
Tre lớn hay Chi Hóp (Bambusa) có khoảng 32 loài.
Loài (species):
Tre măng lớn: Bambusa spp. (Khoảng 25 loài).

-Phân họ tre (Bambusoideae) có khoảng 1.500 loài từ thân thảo đến tre buội lớn.
-Tông tre (Bambuseae) phân chia thành 9 phân tông và chứa khoảng 91 chi, bao gồm khoảng 1.000 loài.
-Phân tông tre lớn (Bambusinae), là những loài cây dạng tre thân gổ thực sự, bao gồm 10 chi với khoảng 130 loài.
-Chi Tre lớn hay Chi Hóp (Bambusa) có khoảng 32 loài.
Các loài tre thân gổ lớn và có măng dùng làm thực phẩm được khoảng 26 loài được liệt kê sau đây:
Các loài tre thân gổ lớn phổ biến ở Châu Á và Việt Nam
1- Tre gai rừng -Bambusa arundinacea Retz.
2- Lồ ô -Bambusa balcooa.
3- Tre gai lớn.-Bambusa bambos.
4- Tre Beechey-Bambusa beecheyana.
5- Tre là ngà, tre gai-Bambusa blumeana Schult.
6- Tre Miến Điện-Bambusa burmanica.
7- Dùng -Bambusa chungii.
8- Tre trấu dài-Bambusa longispiculata.
9- Hóp, trẫy-Bambusa multiplex.
10- Tre vầu-Bambusa nutans Wall. Ap. Munro.
11- Tre gai Trung Quốc-Bambusa sinospinosa.
12- Tre xiêm, tre nước -Bambusa tulda.
13- Hóp nhỏ, trúc-Bambusa tuldoides.
14- Tầm vông -Bambusa variabilis.
15- Trúc đùi gà -Bambusa ventricosa.
16- Tre mỡ.-Bambusa vulgaris Schrad ap. Wendl.
17- Tre trổ.Bambusa vulgaris Schrad ap. Wendl. Var. auro-variegata Hort.
18-Tre tàu- Gigantochloa verticillata Munro.
19-Tre Mạnh tông - Dendrocalamus latiflorus Munro.
20-Tre điền trúc- Dendrocalamus ohhlami.
21-Dang- Dendrocalamus drocalamus sp.
22-Tầm vong- Dendrocalamus cstrictus (Roxb.)Nees.
23-Trúc cần câu, trúc đen- Phyllostachys nigra (Lodd.) Munro var. Henonis.
24- Mai- Cinocalamus giganteus (Munro) A. Camus.
25-Nứa- Taeniosctachyum dulla Gamble.
26-Le- Oxytennanthera spp.

Phân bố

Hiện nay tre phân bố trên khắp thế giới, trừ Châu Âu và Châu Nam cực.
Tổng hợp các phân tông, chi, loài được liệt kê như sau:

Khu vực địa lý 
Phân tông 
Chi 
Loài 
Nhiễm sắc thể số 
Châu Á 
6 
44 
600  46, 48, 64, 72 
Châu Phi 
2 
3 
5 (đặc hữu)  72 
Madagascar 
2 
6 
20 (đặc hữu) 
Úc 
2 
2 
3 
Thái Bình Dương
2 
2 
4 
Mỹ 
4 
21 
 400  40, 46, 48 
Tổng số 
9 
68 
1000 

Mô tả

Cây tre có nhiều loài, trong bài viết này đề cập đến những loài tre có kích thước lớn, có thể thu hoạch măng tre để làm thực phẩm.
+Thân: là những đặc điểm rõ ràng nhất để phân biệt giữa các loài tre. Thân có thể khác nhau về kích thước, màu sắc, hình dạng, và thậm chí cả mùi.Thân gồm có thân ngầm và thân mọc trên không.
-Thân ngầm: Phát triển ra chồi gốc (măng tre) và rể tre. Thân ngầm phân nhánh tạo thành khối bám vững chắc trong đất với nhiều nhánh (do sự phát triển của thân trên không), thân già hóa gổ và tồn tại rất nhiều năm. Sự phát triển của thân ngầm quyết định dạng của buội tre. Do cách mọc của thân ngầm chia dạng buội tre thành hai loại:
Thân ngầm dạng khối: tạo ra buội tre có gốc tập trung. Dạng này phát tán chậm.
Thân ngầm dạng bò lan tỏa: tạo ra buội tre có gốc rời rạc. Dạng này phát tán nhanh.
Thân ngầm mọc chồi non (măng tre) để hình thành cây tre mới và mọc rể ăn sây dưới đất để buội tre bám trụ và hút chất dinh dưỡng từ đất.
-Thân trên không =cây tre: Thân trên không gồm lóng và đốt, mỗi thân có vài chục lóng. Số lượng và chiều dài của lóng quyết định chiều cao của mỗi loài tre. Lóng có hình trụ tròn, rổng ruột, thành lóng hóa gổ rắn chắc. Trên mỗi đốt có mang một lá bẹ có vai trò bảo vệ. Trên đốt có đai rể khí sinh, có từ 1-5 nhánh, trong đó có 1 nhánh phát triển vượt trội. Với các loài tre gai ở mỗi đốt còn mọc từ 1 đến nhiều gai sắc, nhọn.
Măng tre chính là chồi gốc hay thân non của buội tre, là sản phẩn duy nhất con người có thể ăn.
+Rể: Tre có rể chùm mọc từ thân ngầm, bộ rể dày đặc với nhiều cấp, phát triển mạnh cả bề rộng lẩn bề sâu. Nhiều người còn gọi thân ngầm là rể củ của tre.
+Cành: Cành cấp 1 của tre mọc từ thân chính, từ cành mẹ tiếp tục nhảy chồi ra cành cấp 2, rồi cấp 3...Cách phát triển và cấu tạo của cành giống như ở thân chính.
+Lá: Lá tre thon, dài, mọc cách luân phiên theo hướng đối diện. Mặc dù phần lớn lá của tre có màu xanh, nhưng với tre dại, tre cảnh lá cũng có thể là màu nâu, đen, vàng, hoặc sọc.
+Hoa: Tre là loài cây một lá mầm có hoa. Hoa tre chỉ mọc một lần ở cuối ngọn của thân tre khi cây đã già sắp chết. Một buội tre thân gổ lớn có tuổi thọ khoảng 100 đến 150 năm mới nở hoa.
Hoa tre khó thụ phấn và sinh sản chủ yếu bằng cách nhảy chồi ờ gốc (mọc măng).

Thành phần hóa học

Theo Cơ sở dữ liệu quốc gia dinh dưỡng Hoa Kỳ - USDA (2006) thì thành phần dhóa học trong măng tươi của loài tre mỡ (Bambusa vulgaris ) như sau:
-Độ ẩm: 90,60 ± 0,82 %.
-Chất xơ: 4,24 ± 0,01 %.
-Tro 1,01 ± 0,21 %
-Carbohydrates : 6,51 ± 0,05 %.
-Tinh bột : 0,27 ± 0,05 %.
-Chất béo: 0,50 ± 0,01%.
-Protein : 3,64 ± 0,03 %.
-Amino axit : 3,57 ± 0,04 %.
-Vitamin C : 4,80 ± 0,11 mg %.
-Vitamin E: 0,52 ± 0,10 mg %.
Theo USDA đánh giá về giá trị dinh dưỡng của măng tre như sau:
1-Măng tre giàu chất dinh dưỡng: Măng tre có các chất dinh dưỡng chính là protein, carbohydrates, axit amin, khoáng chất, đường, chất béo, chất xơ, và các muối vô cơ.
Chất đạm chứa từ 1,49 - 4,04 g (trung bình 2,65 g) mỗi 100 g măng tre tươi. Chất đạm  trong măng tươi chứa 17 axit amin, trong đó có 8 axit amin là rất cần thiết cho cơ thể con người ( Qiu 1992 , Ferreira và ctv-1995 ). Tyrosine chiếm 57% đến 67% tổng lượng axit amin ( Kozukue và ctv-1999 ). 
Măng tươi có các a xit amin và vitamin quí như thiamin, niacin, vitamin A, vitamin B6, và vitamin E ( Visuphaka 1985 ; Xia 1989 ; Shi và Yang -1992 ).
2-Măng tre có vai trò của một thực phẩn chức năng:Măng tre chứa phytosterol và một số lượng lớn chất xơ có thể hội đủ điều kiện như "loại thuốc tự nhiên" có hoạt động làm giảm cholesterol (Brufau và những người khác 2008).
3-Măng tre có ít calo: Măng tre có chất xơ cao, nguồn chất xơ ăn được (6-8 g/100 g trọng lượng tươi), giúp làm giảm cholesterol máu. Măng tre giúp làm giàu chất xơ trong các món ăn giàu đạm và lipid.
4- Măng tre có ít chất béo: Chất béo rất thấp trong măng tre (2.46 g/100 g), do đó, rất tốt cho những người ăn kiêng.
5- Măng tre giàu chất khoáng vi lượng: Trong măng tre có các chất khoáng gồm: kali (K), canxi (Ca), mangan (Mn), kẽm (Zn), crôm (Cr), đồng (Cu), sắt (Fe), cộng với số lượng thấp hơn của phốt pho (P), và selen (Se) ( Shi và Yang -1992 ; Nirmala và ctv- 2007 ). 
6- Măng tre có thể dùng làm món khai vị: với thành phần xenlulo cao, giòn và hương vị ngọt, măng tre có chức năng như một món khai vị, kích thích sự thèm ăn.
Ghi chú! Trong măng tươi có chất độc cần phải đề phòng:
-Trong măng tre tươi có một chất độc gọi là glucozit sinh acid xyanhydric (HCN). Khi gặp men tiêu hoá trong dạ dày có chất chua, glucozit bị thuỷ phân và giải phóng acid xyanhydric (HCN). Chính acid này gây ra ngộ độc, nôn mửa, giống như khi bị ngộ độc sắn. Trong măng tươi càng có vị đắng cao càng nhiều chất độc.
-Theo các chuyên gia, ăn măng không được chế biến kỹ có thể bị ù tai, nôn ói, nặng hơn là đau đầu, thở gấp, tăng nhịp tim, thậm chí dẫn đến tử vong.
Trong măng tre có thể chứa hơn 1.000 mg chất này trên mỗi kg. Trên mỗi cây măng, ở phần đỉnh ngọn, hàm lượng chất độc cao nhất, thấp nhất là phần gốc. Măng càng đắng thì càng chứa nhiều cyanide và càng có khả năng gây ngộ độc cao.
Một người lớn ăn phải 20mg acid xyanhydric có thể bị ngộ độc. Trẻ em, người già yếu nhạy cảm hơn. Nhưng cũng không nên vì thế mà sợ ăn măng.
-Chất hydrogen cyanide có khả năng phân hủy nhanh trong nước sôi, vì thế, luộc măng trong nước sôi 98 độ trong 20 phút, có thể giảm gần 70% cyanide, nếu nhiệt độ cao hơn, thời gian lâu hơn sẽ giảm đến 96%. Cho nên từ xưa nhân dân ta dã có kinh nghiệm ngâm, rửa và luộc măng tươi bỏ nước trước khi xào, nấu.
Chất độc mất đi khi măng tươi được nấu và hầm lâu, khi đó ăn vừa ngon vừa không còn chất độc.
-Trong măng chua, măng khô đã giảm chất độc, nhưng khi chế biến thức ăn cần chú ý các thao tác giải độc như ngâm, rửa, nấu lâu...

Công dụng

Các bộ phận của cây tre có rất nhiều công dụng như sau:
a-Buội tre
1-Làm rào chắn, bảo vệ: Bờ tre vườn, lũy tre làng có ý nghĩa phân ranh và bảo vệ.
2-Chống sạt lở, xói nòn, chống gió bão: Bờ tre hay lũy tre có tác dụng chống sạt lở, xói nòn đất, chống gió bão.
3-Là biểu tượng văn hóa: Tre, trúc là biểu tượng văn hóa của nhiều nước Á Đông. Được ca ngợi trong thơ văn, hội họa, điêu khắc.
4-Là nguồn thu nhập: Cây tre là nguồn thu nhập của rất nhiều người trên toàn thế giới. Từ người nông dân , thợ thủ công, nghệ nhân cho đến các công ty kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ, cây cảnh...
b-Thân tre
1-Trong xây dựng: cây tre dùng để làm nhà, lợp mái, làm sàn, rào…
2-Trong công nghiệp: cây tre dùng để sản xuất ra giấy, ván ép, chất đốt diesel sinh học có thể lấy từ cây tre...
3-Trong vật dụng gia đình: Thân tre có thể dùng để tạo ra thúng, rổ, sàn, xịa, nong, nia, cót, thuyền nan, đăng, đó, nò, lờ, đủa…
4-Trong thủ công mỹ nghệ: cây tre dùng để làm ra các sản phẩm trang trí nhà cửa rất đẹp và tiện dụng như: khung tranh ảnh, bát, đĩa, khay, bàn, ghế, giường, tủ...
5-Trong âm nhạc: cây tre dùng để làm ra các nhạc cụ âm nhạc như: đàn tơ-rưng, sáo, đàn gió...
c- Măng tre dùng làm thực phẩm
Chồi non của cây tre có thể ăn được gọi là măng.
Theo tổ chức Tre bảo vệ môi trường thế giới Enviromental Bamboo Foundation (EBF), măng tre cung cấp dinh dưỡng cho hàng triệu người trên thế giới bởi đặc tính chống oxy hóa của nó.
-Ở Nhật Bản: theo ghi nhận của Bảo tàng Tre nước này, cây măng rất có giá trị bởi đây là món ăn quan trọng có tính thời vụ của các đầu bếp nổi tiếng.
Có rất nhiều cách chế biến các món ăn từ măng tre ở Nhật. Măng của giống tre Mosochiku là món thông dụng do nó lớn, đầy đặn, mềm và thơm hơn các loài măng khác.
Những món thông dụng như: măng hầm (Nimono), măng nấu đậu tương (Dengaku), măng nấu súp với ngọn sancho (Kimone-ae), măng nướng (Yakimono), măng tươi ăn sống (Shashimi), súp măng (Wanmono) và măng hầm gạo (Takenoko-gohan).
Ngoài các món ăn thông dụng, các viên thuốc từ vỏ tre tán bột rồi làm như bánh in có thể uống với trà mỗi ngày để ngăn ngừa vi khuẩn phát triển, giúp duy trì tuổi thanh xuân hoặc chống lão hóa.
-Ở Đài Loan: người ta tiêu thụ khoảng 80 ngàn tấn măng tre chế biến với doanh thu 50 triệu USD mỗi năm.
-Ở Việt Nam: Các món ăn từ măng tre gồm có:
1-Măng tươi dùng như rau sống: Măng ít vị đắng xắt mỏng và ngâm nước có thể dùng để ăn sống, bóp gỏi: như măng tre Lục trúc.
2-Măng tươi dùng để luộc, xào: Măng tươi được xắt mỏng, ngâm nước, dùng để luộc, xào với thịt, hải sản…
3- Măng tươi dùng để nấu canh, hầm: Măng tươi được xắt mỏng dùng để nấu canh măng hay hầm với xương, thịt cứng để tạo ra các món canh, súp măng.
4- Măng tươi dùng để muối chua: Măng tre tươi muối chua được dùng trong nhiều món xào, nấu, kho…có vị rất ngon.
5-Măng tươi muối, phơi khô: Làm nguyên liệu thức ăn để bảo quản lâu dài.
d-Các bộ phận cây tre dùng trong y học
-Ở các nước Châu Á, Châu Phi và Nam Mỹ con người gắn bó với cây tre từ hàng ngàn năm, những kinh nghiệm dân gian dùng các bộ phận cây tre làm thuốc rất phong phú.
1-Măng tre: Là món cung cấp nhiều chất carbohydrate, dầu thực vật, chất đạm và vitamin B, hỗ trợ cho việc tuần hoàn máu...
2-Lá tre: Được dùng để chữa một số bệnh như bệnh ngứa, bệnh chảy máu, bệnh hen suyễn, bệnh mất ngủ...
3-Rể tre: Rễ của giống tre đen dùng trị bệnh về đau cật, rễ và lá tre chữa bệnh về đường sinh dục và ung thư.
4-Nhựa tre: Có công dụng giảm sốt.
5- Tro tre: Đốt từ thân và lá cây tre chữa các vết sưng tấy.
-Ở Trung Quốc, rễ tre của giống tre đen dùng trị bệnh về đau cật, rễ và lá tre chữa bệnh về đường sinh dục và ung thư.
-Một đại diện chính quyền cấp xã ở Indonesia trong tường thuật với tổ chức "Tre thế giới- WBO" nói rằng nước tiết ra từ cành tre - mà thiền sư Tuệ Tĩnh gọi là trúc lịch - chữa trị gãy xương rất tốt và họ cũng có một giống tre dùng để kích thích sự sinh sản của loài voi.
-Theo y học cổ truyền Việt Nam, măng tre (chỉ dùng tre gai và tre mỡ) vị ngọt, hơi đắng, tính mát bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, chỉ khát, tiêu đờm, nhuận táo, chống co thắt. Măng tre có thể chữa được một số bệnh như sốt cao, ho, mụn nhọt, đầu đinh....
-Theo tây y: Có loại thuốc Tabasheer chế từ tinh tre chữa các bệnh hen suyễn, ho và làm cả thuốc kích dục.

Các bài thuốc từ cây tre

1-Chữa mụn nhọt: Lấy măng tre mới nhú 20 g, bồ công anh 10 g, gừng 5 g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống làm một lần trong ngày (theo DS. Hữu Bảo).
2-Chữa sốt cao: Lấy 30 g măng tre mọc được 10-20 cm đã lột bỏ lớp mo nang, rửa sạch, để ráo nước, thái nhỏ, ép cùng với gừng tươi 10 g, lấy nước uống làm một lần. Ngày uống hai lần (theo DS. Hữu Bảo).
3-Chữa ho: Măng tre 20 g, chua me đất hoa vàng 20 g, rễ dâu 10 g (chỉ lấy phần vỏ trắng ở trong, tẩm mật, sao vàng), gừng 8 g. Tất cả giã nát, thêm ít đường hoặc mật ong, hấp cơm 10-15 phút. Lấy ra, để nguội, uống (theo DS. Hữu Bảo).
4-Chữa hen suyễn, thấp khớp: Măng tre 40 g giã nát, ép lấy nước. Ốc sên (loài ốc to, có vỏ dày bóng, màu vàng nâu đen, miệng không có vảy, thường phá hoại cây cỏ, rau màu), lấy 2 con, đập bỏ vỏ, ruột, dạ dày và thực quản, chỉ lấy phần thịt xát với muối và phèn chua, rửa sạch cho hết nhớt, nướng vàng, thái nhỏ, rồi nấu lấy nước đặc. Trộn hai nước, uống làm 1-2 lần trong ngày. Dùng trong thời gian dài (theo DS. Hữu Bảo).
5-Trị cái ghẻ (sâu quảng):Măng tre (100g) phối hợp với quả hồi (50g), lá chanh (50g), lá thuốc lào (50g), rửa sạch, giã nát, đắp chổ bị ghẻ (theo DS. Hữu Bảo).
Chú ý!
Người tỳ vị hư hàn hoặc đang dưỡng bệnh không nên dùng măng tre vì khó tiêu; người bị bệnh sốt rét ăn măng tre dễ bị tái phát.
                                                                                            Kỹ sư Hồ Đình Hải

Xem video: Cây tre Việt  Nam



Xem video: Lợi và hại của măng tre