Nấm bào ngư


NẤM BÀO NGƯ

Nấm bào ngư trắng
-Tên gọi khác: Nấm sò, nấm sò xám, nấm hương chân ngắn, nấm trắng, nấm dai…
-Tên tiếng Anh: Oyster mushroom, Tree Oyster mushroom, Straw mushroom.
-Tên khoa học: Pleurotus ostreatus (Jacq. ex Fr.) P.Kumm. 1871
-Các phân loài: P. cystidiosus (nấm bào ngư) - Toàn cầu.
                           P. abalonus - (nấm bào ngư)-Đài Loan.
                           P. fuscosquamulosus - (nấm bào ngư) Châu Phi, Châu Âu.
                           P. smithii - (nấm bào ngư) Mexico.

Phân loại khoa học


Giới (regnum):
Nấm (Fungi)
Ngành (phylum):
Nấm đảm (Basidiomycota)
Lớp (class):
Nấm tản (Agaricomycetes)
Bộ (ordo):
Nấm tản (Agaricales)
Họ (familia):
Nấm bào ngư (Pleurotaceae)
Chi (genus):
Nấm bào ngư (Pleurotus)
Loài (species):
Pleurotus ostreatus
Chi nấm bào ngư hay nấm sò (Pleurotus) là một Chi nấn lớm bao gồm nhiều loài nấm ăn được, trong đó điển hình là nấm Bào ngư P.ostreatus. 
Pleurotus có nghĩa là "tai bên", từ tiếng Hy Lạp ( pleurē ) = "mặt"  +(ōtos ) = "tai".
Ở Việt Nam nấm bào ngư còn tên gọi là nấm hương chân ngắn, nấm sò xám, nấm trắng, nấm dai…
Việc phân loại các loài trong Chi Pleurotus là khó khăn do sự biến đổi kiểu hình cao trên phạm vi địa lý rộng, với sự chồng chéo của các loài trong một vùng địa lý, và sự tiến hóa liên tục và sự biệt hóa . 
Chi Nấm Sò Pleurotus gồm các loài sau:
I. P. ostreatus (Nấm sò, nấm sò ngọc trai) - Bắc Mỹ và Bắc Âu Á. (có 1 loài phụ)
P. florida
II. P. pulmonarius (Nấm phượng hoàng hay nấm sò Ấn Độ) - Bắc Mỹ, Âu Á, và Châu Úc. (có 2 loài phụ).
P. columbinus 
P. sapidus
III. P. populinus - Bắc Mỹ.
IV. P. cornucopiae (nhánh nấm sò) - Châu Âu (có 2 loài phụ).
P. citrinopileatus (nấm sò vàng) - Đông Á
P. euosmus (nấm hàu ngải giấm)
V. P. djamor (nấm sò màu hồng) – pantropical (có 3loài phụ).
P. flabellatus
P. salmoneo-stramineus
P. salmonicolor
VI. P. eryngii (nấm sò vua) - Châu Âu và Trung Đông. (có 3 loài phụ)
P. ferulae
P. fossulatus Afghanistan.
VII. P. cystidiosus (nấm bào ngư) - Toàn cầu (Có 3 loài phụ).
P. abalonus - Đài Loan.
P. fuscosquamulosus - Châu Phi, Châu Âu.
P. smithii
VIII. P. levis - cận nhiệt đới và vùng nhiệt đới.
IX. P. dryinus - Bắc Mỹ, Châu Âu, và New Zealand.
X. P. củ-regium (vua nấm củ) - Châu Phi, Châu Á, Úc.
XI. P. opuntiae - Bắc Mỹ, New Zealand.
XII. P. abieticola - Châu Á.
XIII. P. albidus - Caribbean, Trung Mỹ, Nam Mỹ.
XIV. P. australis nấm sò (màu nâu) - AustraliaNew Zealand.
XV. P. purpureo-olivaceus - AustraliaNew Zealand. (có 2 phân loài).
XVI. P. calyptratus
Các loài tương cận có mối quan hệ không rõ ràng
P. parsonsii 
P. velatus 

Phân bố

Chi nấm bào ngư hay nấm sò (Pleurotus) được tìm thấy trong vùng khí hậu nhiệt đới  ôn đới trên toàn thế giới. Hầu hết các loài nấm Pleurotus sống hoang dại trên thân cây gổ đã chết còn cứng hay trên gổ cây tùng đã hoai mục.
Nấm bào ngư Nhật
Nấm sò là phổ biến rộng rãi trong các khu rừng ôn đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới, mặc dù nó là vắng mặt từ  Tây Bắc Thái Bình Dương của Bắc Mỹ , được thay thế bởi P.pulmonarius  P. populinus . 
Đặc biệt loài nấm bào ngư Nhật (P. eryngii ) có mối liên kết với các loại cây thân cỏ , và nấm củ (P. regium) sản xuất ngầm hạch nấm ngầm .Ngoài ra tất cả các loài nấm sò Pleurotus cũng tiêu diệt tuyến trùng và giun tròn (nematophagous) , bằng cách làm tê liệt chúng với chất độc.
Nấm bào ngư được trồng rộng rãi và được sử dụng ở Kerala , Ấn Độ , nơi có nhiều món ăn được chuẩn bị từ nấm. Ngoài thu hái trong tự nhiên, hiện nay nấm bào ngư chủ yếu được trồng trong các túi nhựa với nguyên liệu là mạt cưa, bột gổ, rơm, rạ...
Hiện nay rất nhiều nước trên thế giới mở rộng công nghệ trồng nấm bào ngư vì đây là những loài nấm có giá trị dinh dưỡng cao, dể trồng và sản phẩm đẹp phù hợp với các siêu thị.

Mô tả

Nấm bào ngư Pleurotus, thường mọc hoang trên thân gỗ, mọc đơn độc hay mọc chồng lên nhau và có nhiều loại khác về màu, hình dạng, ít bệnh, dễ trồng. Nấm có dạng hình phễu lệch, thân có 3 phần gồm mũ, phiến và cuống nấm.
Các mũ có thể được gắn theo chiều ngang (không có gốc). Nếu có gốc, nó là bình thường và mang các tai nấm (decurrent) dọc theo nó. Thuật ngữ pleurotoid được sử dụng cho các nấm có hình dạng chung này.
Các bào tử có dạng trơn tru và kéo dài (được mô tả là "trụ"). Trường hợp sợi nấm đáp ứng, họ được tham gia kết nối kẹp. Loài nấm sò Pleurotus không được coi là một loại nấm khung , và hầu hết các loài mọc đơn (monomitic) với một tai nấm mềm. Tuy nhiên trong môi trường khô hạn cây nấm có thể mọc đôi (dimitic) , có nghĩa là nó có thêm sợi nấm phụ giống như dạng nấm khung.
Nấm có tai rộng hình nắp vỏ sò, dài từ 5-25 cm, tùy loài có màu sắc thay đổi từ màu trắng kem đến trắng xám, xám, nâu…

Giá trị dinh dưỡng

Nấm bào ngư là loại nấm giàu dinh dưỡng và dược tính nên được gây trồng trên rơm rạ, bã mía, mùn cưa… để làm thực phẩm và làm thuốc trị bệnh.
Thành phần có trong nấm bào ngư tươi gồm:
-Protide 4%.
-Glucide 3,4%.
-Vitamine C, vitamine PP, acide folic..
-Các acide béo không no…
Khi nấm bào ngư dưới dạng sinh khối khô, hàm lượng proteine chiếm tới 33 – 43%, ngoài ra còn thấy các acide amine như glutamic, valin, isoleucin… tuy nhiên cũng chứa một hàm lượng rất nhỏ chất arabitol nên khi ăn vào có thể gây khó chịu trong đường tiêu hóa ở một số cá nhân.

Công dụng của nấm bào ngư

Nấm bào ngư là loại rau sạch có dinh dưỡng cao

Các loại nấm bào ngư (nấm sò) là thứ thực phẩm rất tiện ích cho cuộc sống con người, dễ nuôi trồng và hoàn toàn có lợi về vấn đề môi trường. Đặc biệt, nấm còn vừa là "rau sạch" và vừa là "thịt sạch".Có thể nói nấm là nguồn thực phẩm chức năng của thế kỉ 21.
Khí hậu mát mẻ quanh năm là điều kiện rất thích hợp cho Nấm Bào Ngư phát triển tự nhiên, không sâu bệnh, nấm gây hại.
Nấm bào ngư thường được sử dụng trong nấu ăn ở Nhật Bản , Hàn Quốc  Trung Quốc như 1 món ăn thường xuyên phục vụ riêng của mình, trong súp, nhồi, hoặc trong các công thức nấu ăn xào với nước tương . Nấm Oyster đôi khi làm thành nước sốt, được sử dụng trong nấu ăn ở Châu Á, tương tự như dầu hào . Hương vị của nấm đã được mô tả như là một nhẹ với mùi nhẹ tương tự như hồi .Nấm sò là tốt nhất khi còn non, khi nấm già thịt trở nên cứng rắn và hương vị trở nên chát và khó chịu.
Nấm bào ngư là nguồn thực phẩm cao cấp được dùng để nấu nhiều món ăn khác nhau như xào, hầm với nhiều thực phẩm khác làm tăng hương vị và tăng chất bổ dưỡng. Các món ăn nấu với nấm bào ngư vừa là thức ăn ngon vừa là bài thuốc phòng trị nhiều bệnh tật.
Điển hình là món cháo thịt thăn, nấm bào ngư, vừa ngon vừ có tác dụng phòng và trị bệnh:
Nguyên liệu: Nấm bào ngư 200g (ngâm trong nước muối loãng, rửa sạch vớt ra, thái mỏng), gạo tẻ ngon 20g, thịt nạc thăn thái nhỏ, bỏ những mỡ bám và băm nhuyễn 100g, hành, ngò, tiêu, gia vị, nước mắm, bột nêm, bột ngọt, dầu vừa đủ. Dùng cho 2 người ăn trong một bữa.
Cách làm: Ướp thịt với nước mắm ngon cùng hành, tiêu và bột nêm. Gạo tẻ đãi sạch cho vào nồi nấu nhừ thành cháo. Lấy chảo để nóng cho dầu ăn phi hành thơm cho thịt nạc thăn đã băm nhuyễn vào xào qua cho thịt vừa chín tới thì đổ thịt vào nồi cháo. Tiếp theo cho nấm vào nấu sôi thêm 10 phút, nêm đủ hành ngò, gia vị, bột ngọt vừa đủ đảo đều, bắc xuống luôn.
Với nấm sấy khô: Rửa sạch trụng qua nước sôi 1-2 phút để chế biến như nấm tươi.

Nấm bào ngư được dùng làm thuốc

Đông y cho rằng nấm bào ngư có vị ngọt, tính ấm, công năng tán hàn và thư cân.
Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm ăn còn có nhiều đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng và chữa các bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột, tẩy máu xấu...; và đặc biệt là đã có một số công trình nghiên cứu còn cho rằng nấm bào ngư còn có khả năng chống bệnh ung thư (hướng nghiên cứu này sẽ được tiếp tục làm sáng tỏ trong tương lai).
Tác dụng chống ung thư của nấm bào ngư do sự hiện diện của lovastatin trong tai nấm, tập trung ở phiến nấm và đặc biệt ở bào tử nấm. Nấm sò là một trong những thường tìm nấm hoang dã, mặc dù nó cũng có thể được trồng trên rơm rạ và các loại vật liệu khác. Nó thường có hương thơm của hồi do sự hiện diện của benzaldehyde.
Với các kết quả nghiên cứu dược lý người ta cho biết trong nấm bào ngư có chất pleutorin có công hiệu kháng khuẩn gram dương và kháng cả tế bào ung thư… Các nghiên cứu khác có tác dụng làm giảm thiểu đối với cholesterol và đường máu cho kết quả khả quan.
Trong tự nhiên nấm bào ngư có tiết ra chất kháng tuyến trùng và giun tròn. Do đó khi ăn nấm bào ngư còn có tác dụng phòng ngừa giun, sán rất tốt.
Các bài thuốc từ nấm bào ngư
1-Trị mỡ máu, tiểu đường: Nấm bào ngư 100 – 200g, nấu lấy nước uống hằng ngày. (theo Bác sĩ Hoàng Xuân Đại).
2-Tây y: Nghiên cứu cho thấy trong nấm bào ngư có chức đến 2,8% chất lovastatin so với trọng lượng khô. Người ta chiết xuất chất này để chế ra thực phẩm chức năng và chế thuốc làm giảm cholesterol.
References
5-http://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%A5m_s%C3%B2
                                                                                                   Kỹ sư Hồ Đình Hải

Rau dệu


RAU DỆU

-Tên gọi khác: Rau diệu, Dệu không cuống, Rau diếp bò.
-Tên Tiếng Anh: sessile joyweed , dwarf copperleaf.
-Tên khoa học: Alternanthera sessilis.
-Tên đồng nghĩa: A. repens, A. Glabra, Gomphrena sessilis.


Phân loại khoa học

Bộ (ordo):
Cẩm chướng (Caryophyllales).
Họ (familia):
Dền (Amaranthaceae).
Phân họ (subfamilia):
Phân họ Rau dệu (Gomphrenoides).
Chi (genus):
Tên đầ đủ:
Alternanthera sessilis

Phân bố

Họ Dền (Amaranthaceae) có nguồn gốc ở Nam và Trung Mỹ, được phân bố trên các vùng nhiệt đới và ôn đới khắp thế giới khoảng 160-174 chi với khoảng 2.050-2.500 loài khác nhau. Phần lớn là loài cây thân thảo hay cây bụi nhỏ, rất ít loài là cây thân gổ hay dây leo.
Cây rau dệu có tên khoa học Alternanthera sessilis, thuộc Họ rau dền (Amaranthaceae). Phân bố khắp nơi trên thế giới và Đông Nam Á, là cây mọc hoang rất phổ biến ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Inđônêxia và các tỉnh miền Nam Trung Quốc, vv.
Có một loại dệu nước có tên Alternanthera philosciroides có hình dáng tương tự chỉ khác là lá và thân trơn nhẵn, thân rỗng. Cây này cũng được dùng trong trị bệnh tương tự cây rau dệu Rau dệu thường mọc hoang nơi đất ẩm ven suối bờ mương ven sông dùng ngọn và lá non luộc ăn hoặc nấu canh cá thịt
Rau dệu thích sống nơi đất ẩm, dọc theo mương, đất bỏ hoang. Cây mọc nơi đất ẩm bờ hồ, đầm lầy, kên mương thủy lợi, nơi rừng trảng vùng nhiệt đới tới 1200 m độ cao.
Có một loại dệu nước có tên Alternanthera philosciroides có hình dáng tương tự chỉ khác là lá và thân trơn nhẵn, thân rỗng. Cây này cũng được dùng trong trị bệnh tương tự cây rau dệu Rau dệu thường mọc hoang nơi đất ẩm ven suối bờ mương ven sông dùng ngọn và lá non luộc ăn hoặc nấu canh cá thịt
Ở Việt Nam, rau dệu mọc hoang quanh năm ở các bãi sông, bờ ao, ruộng có  nước, ven đường nơi ẩm và sáng. Ngọn và lá non có thể dùng làm rau cho người, toàn cây làm rau cho lợn.

Mô tả

Cây rau dệu phát tán bằng hạt hoặc bằng cách chia nhánh. Nhiều nhánh phủ thành đốt bò trên mặt đất.
-Thân: Là loại cây thân thảo thấp, thân thường màu tím hoặc tím rất nhạt khi mọc dưới tán cây khác. Cây mọc bò lan trên đất dài tới 5m, nên còn có tên gọi là diếp bò, trên thân mang những đoạn cành 40-50cm. Những cành sát mặt đất thì rễ mọc ra từ các đốt và cứ thế vươn dài ra.Cây mọc đa niên, yếu, tròn, dầy, lóng trơn mang hai hàng lông trắng đối diện.
-Rể :rể có nhiều cấp, mọc cạn.
-Lá : Có phiến đơn, mọc đối, có hoặc không có cuống lá 1,5- 5 mm, phiến lá hình mũi mác nhọn 2 đầu dài 4-6cm rộng 1- 2cm, mép nguyên, Phiến lá hơi nhám.
 -Hoa : Phát hoa mọc thành chùm ở nách lá, phiến hoa trắng, lưỡng tính, không cuống, 1 gân, tiểu nhụy thụ 3 xen với tiểu nhụy lép dạng phiến lõm. Hoa trổ vào tháng 11 và 12, đậu quả vào tháng 6 đến tháng giêng.
-Quả: quả bế, hình tim ngược hay dạng thấu kính.
-Hạt: quả chứa một hạt màu nâu.
Cây rau dệu được dùng làm thức ăn gia súc, dùng làm rau ăn và dùng làm thuốc.

Thành phần hóa học

-Theo tài liệu của Ấn Độ

Trong 100 gam lá tươi của rau dệu chứa: 80 g nước, năng lượng 251 kJ (60 kcal), protein 4,7 g, chất béo 0,8 g, carbohydrate 11,8 g, chất xơ 2,1 g, Ca 146 mg, P 45 mg , Sắt 16,7 mg (Leung, W . TW, Busson, F. & Jardin, C., 1968).
Ngoài ra còn có các chất có hoạt tính sinh học cao như:
+Lá chứa lượng lớn alpha và bêta tocophénols.
+Thân và lá chứa:
-Stigmastérol,
-Bétasitostérol,
-Một hydrocarbure aliphatique bảo hòa và ester aliphatique.
-α-spinastérol triterpènes.
-β-spinastérol.
-acide oleanotic và dẫn xuất của nó.
-chất aliphatique bảo hòa (aliphatique).
-những chất esters.

-Theo Viện Y học cổ truyền Việt Nam

Trong các ngọn non theo tỷ lệ % có: nước 80,3, protid 4,5, glucid 1,9, cellulose 2,1, khoáng toàn phần 2,2, calcium 98mg%, phosphor 22mg%, sắt 12mg%, caroten 5,1mg% và vitamin C 77,7mg%.

Công dụng của rau dệu

a-Rau dệu được dùng làm rau
1-Rau diệu luộc : Thân và lá non của rau dệu dùng làm rau luộc.
2-Rau dệu xào : Thân và lá non của rau dệu dùng làm rau xào với thịt, trứng.
3-Rau dệu nấu canh : Rau dệu nấu canh với cá đồng, thị bầm, nấm ăn rất bổ dưởng.
b-Rau dệu sử dụng làm thức ăn chăn nuôi
1-Làm thức ăn cho cá: Thân lá tươi của cây rau dệu làm thức ăn cho cá mè, trắm cỏ, rô phi rất tốt.
2-Làm thức ăn cho gà, vịt: Thân lá tươi của cây rau dệu để nguyên hoặc xắt nhuyễn làm thức ăn cho gà, vịt, ngan, ngỗng rất tốt.
c-Rau dệu sử dụng làm thuốc
+Tại Ấn Độ
Theo thuyết y học Ayurvéda của Án độ (về những yếu tố vận chuyễn điều hành trong cơ thể con người) thì rau dệu trị được những căn bệnh về cảm giác, da, tiêu chảy, khó tiêu, bệnh trĩ, gan và sốt, lợi sữa, lợi mật và hạ nhiệt.
Thực nghiệm ở Ấn Độ cho biết bột nhão của lá rau dệu biểu hiện sự ức chế những đột biến các chủng vi trùng salmonella typhimurium .Ức chế sự hình thành của chất nitrosodiethanolamine là chất gây bệnh ung thư mạnh từ môi trường do tiền chất triethanolamine gây ra.
Dung dịch trích từ rượu của toàn cây rau dệu cho thấy sự hiện diện những hoạt động giãm nhiệt và chất histamine của sự dị ứng và thư giản cơ trơn.
Chất trích ester cho thấy hoạt chất của rau dệu có đặc tính trị liệu chống ung bướu.
Các lá có chứa chất xơ thực phẫm (khoảng 12 g /100g trọng lượng khô) và kết hợp khoảng 75 g chất xơ thực vật trong chế độ ăn kiêng hằng ngày của người bị bệnh tiểu đường, kết quả giãm đáng kể lượng đường máu sau khi ăn.
+Tại Indonesia
Rau dệu được dùng như một phương thuốc giãm đau đường ruột, tiêu chảy và bệnh lỵ. Khi sử dụng bên ngoài để trị giãm sốt.
+Tại Mả Lai
Dùng để chống viêm sốt. Sử dụng ngoài để điều trị vết thương.
+Tại Việt Nam
           Theo y học cổ truyền Việt Nam Rau dệu có vị ngọt và nhạt, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, lọc máu, lợi tiểu, chống ngứa, hạ nhiệt, tiêu sưng.
Ngoài ra người ta còn dùng đọt non làm rau xanh luộc như rau dền. Dân quê thường nấu chung với những rau khác gọi là canh tập tàng chỉ nêm mà không dùng những rau mùi như hành ngò ….luôn giữ hương vị ngọt và mát của rau .

Một số bài thuốc từ cây rau dệu

1-Bài thuốc chỉ định và phối hợp: Thường dùng để trị các bệnh sau đây :
1.Trị bệnh đường hô hấp và khái huyết, viêm hầu;
2.Chảy máu cam, ỉa ra máu;
3.Đau ruột thừa cấp tính, lỵ;
4. Bệnh đường niệu đạo, giảm niệu.
Dùng ngoài trị bệnh viêm mủ da, viêm vú, eczema, bệnh viêm da nổi mẩn, lở chàm, nổi hạch, tràng nhạc hột xoài ở bẹn, rắn cắn.
Nó là vị thuốc nhuận gan, lợi sữa như Rau má lại là vị thuốc chữa lỵ như Rau sam, Cỏ sữa.
Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Hoặc dùng 60-120g rau tươi giã lấy dịch dùng uống. Giã cây tươi để đắp ngoài, hoặc nấu lên lấy nước rửa. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác ( theo Y học cổ truyền Việt Nam).
2-Điều trị Sốt do siêu vi trùng cảm cúm: Rau dệu 100g, Lá tre tươi 100g , Nước 2 lít.Nấu lấy nước cho uống cả ngày. Cả 2 vị này đều dễ tìm và không có độc. Các triệu chứng được cải thiện rất sớm (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
3-Trị Viêm đường tiết niệu:Rau dệu 100g, Rau má 50g, Cam thảo đất 50g, Rau diếp cá 20g, Nấu lấy nước uống (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
4-Trị Viêm gan vàng da : Rau dệu 100g, Cây chó đẻ 50g, Cỏ mực 50g, Củ nghệ 10g ,Nấu lấy nước uống (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
5-Trị chứng hột xoài mới phát: Lấy rau dệu, bèo tía, gừng tươi, lượng 3 thứ như nhau. Rửa sạch, giã nát, cho chút muối, đem sắc kỹ lấy 1 bát uống khi còn nóng, còn bã đắp vào chỗ sưng đau (chú ý trước khi lấy bã đắp cần lấy nước vôi vẽ một vòng quanh chỗ sưng đau để cản không cho độc thoát sang chỗ khác).Rất hiệu nghiệm (Theo Nam Dược thần hiệu).
                                                                                                     Kỹ sư Hồ Đình Hải

Xem video: Thuốc từ rau dệu



Bông so đủa


SO ĐŨA

-Tên gọi khác: Su đũa, điền thanh hoa lớn.
-Tên tiếng Anh: Sesbania, Corkwood Tree, Hummingbird Tree.
-Tên khoa học: Sesbania grandiflora (L.) Poiret.
-Tên đồng nghĩa: Aeschynomene grandiflora.

Bông so đủa trắng

Phân loại thực vật


Bộ (ordo):
Đậu (Fabales).
Họ (familia):
Đậu (Fabaceae).
Phân họ (subfamilia):
Đậu (Faboideae).
Tông (tribus):
Sesbanieae
Chi (genus):
Loài (species):
Sesbania grandiflora (L.) Poiret.

Phân bố

So đũa (danh pháp khoa học: Sesbania grandiflora) là một loài cây thân gổ lớn nhỏ thuộc chi Sesbania trong họ Đậu (Fabaceae). Người ta tin nó có nguồn gốc từ Ấn Độ hay Đông Nam Á và mọc ở những nơi nóng ẩm.
Cây so đủa phân bố nhiều ở các vùng nhiệt đới Châu Á như Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam từ mực nước biển 1- 800 m, cây có thể mọc hoang hoặc trồng theo bờ ruộng, ven đê, ven đường, trong sân, vườn…
Ở Việt Nam cây so đủa phát triển mạnh ở Miền trung trở vào. Ở Nam Bộ cây so đủa mọc hoang hoặc được trồng theo bờ kênh, bờ ruộng, đất vườn.
Ngoài ra cây so đủa còn được trồng ở miền Nam Florida (Mỹ), miền nam Mexico và hầu hết các nước Trung Mỹ đến Nam Mỹ. Để làm nguyên liệu làm bột giấy và trồng nấm (NAS, 1980).

Mô tả

-Thân cây so đũa cao 5-10 m, sống kéo dài 5-10 năm, là cây buội lớn với nhiều cành, lá phát triển. Thân cành của cây so đủa được dùng làm cuổi đun, làm nguyên liệu bột giấy, nguyên liệu để trồng nấm mộc nhĩ, bào ngư..Thân có vỏ dầy, sần sùi và tiết ra mủ đỏ.
-Rể thuộc loại rể cọc, có nhiều rể phụ ăn cạn và rể non có thể được vi khuẩn cộng sinh để tạo nốt sần có khả năng tổng hợp đạm từ không khí.
-Lá kép lông chim, mọc so le, gồm 20-25 đôi lá chét, hình bầu dục thuôn, lá bẹ rụng sớm và lá non mọc nhiều vào đầu mùa mưa.
-Hoa to, mọc thành chùm ngắn có 3-5 cái thõng xuống ở nách lá, dạng hoa môi dài 7-8 cm, màu trắng đôi khi hồng.màu trắng hay hồng (dạng biến thể).
-Quả nang tự khai, dài như quả đậu đũa thót lại ở hai đầu, dài 30-50 cm, dẹt, hơi hẹp lại ở khoảng cách giữa các hạt.
-Hạt hình thận, màu vàng sậm đến nâu.

So đủa hoa tím: dạng biến thể của cây so đủa

Thành phần hóa học

Theo James A. Duke (Ấn Độ)-1983 thì thành phần hóa học của lá và hoa cây so đủa đã trích nước như sau:
Thành phần (100 gam)
Lá trích nước
Hoa trích nước
Calori
Protein
Chất béo
Đường bột
Chất xơ
Tro
Vôi
Lân
Natri
Kali
Thiamine
Riboflavin
Niacin
Vitamin C
Sắt
321 calo
36,3 g
7,5 g
47,1 g
9,7 g
9,2 g
1.648 mg
258 mg
21 mg
2.005 mg
1 mg
1,04 mg
9,17 mg
242 mg
-
345 calo
14,5 g
3,6 g
77,3 g
10,9 g
4,5 g
145 mg
290 mg
291 mg
1400 mg
0,91 mg
0,72 mg
14,54 mg
473 mg
5,4 mg

















Cách sử dụng cây so đủa ở một số nước Châu Á

a-Lá so đủa dùng trong chăn nuôi: Lá so đủa là thức ăn khoái khẩu của loài dê. Lá so đủa tươi còn được dùng làm thức ăn cho cá mè, trắm cỏ, rô phi. Ngoài ra lá so đủa tươi ủ chua làm thức ăn cho bò, heo rất tốt.
b-Lá so đủa dùng để ủ phân xanh: Cành non và lá cây so đủa dùng để ủ phân xanh rất tốt.
c-Thân, nhánh cây so đũa làm cuổi đun: Ở nông thôn còn dùng thân, nhánh cây so đủa để làm cuổi đun.
d-Thân cây so đủa dùng làm nguyên liệu trồng nấm: Thân cây so đủa tươi cưa khúc dùng để trồng nấm mộc nhĩ rất tốt. Hiện nay thân cây so đủa còn được dùng máy băm nhuyễn làm giá thể trồng nấm bào ngư, nấm đông cô rất tốt.
e-Thân cây so đủa dùng làm nguyên liệu bột giấy: Nhiều công ty khai thác gổ so đủa để xay làm bột giấy có chất lượng tốt.
f- Bông so đủa dùng như rau đặc sản cao cấp: Bông so đủa tươi có thể được bóp gỏi để ăn sống, để nấu canh chua hoặc nhúng lẩu ăn rất ngon.
g- Bông so đủa dùng để mưới dưa chua: Bông so đủa tươi phơi héo có thể được dùng để muối dưa rất mau chua và ăn rất ngon.
h-Nhiều bộ phận của cây so đủa được dùng làm thuốc: Ở Việt Nam và một số nước dùng mợt số bộ phận của cây so đủa để làm thuốc…

Các bộ phận cây so đủa dùng làm thuốc

Trong vỏ cây so đủa có chất gôm nhựa, hai chất màu là agathin màu đỏ và xanthoagathin màu vàng. Còn có basorin, một chất nhựa, tanin.
Vỏ cây so đủa có vị đắng, chát; có tác dụng làm thuốc bổ đắng giúp ăn ngon cơm, dễ tiêu hoá. Còn dùng chữa lỵ, ỉa chảy, viêm ruột. Hoa và lá dùng chữa cảm cúm,hạ nhiệt.
Ở Ấn Độ, vỏ cây dùng đun thuốc uống trị đậu mùa, sốt, kiết lỵ, mắt, sốt, đau đầu, bệnh đậu mùa, vết loét và viêm miệng.  (Duke và Wain, 1981).
Nhựa vỏ cây dùng làm thuốc săn da.. Dịch của hoa và của lá so đũa là một vị thuốc dân gian ở Ấn Độ để trị chứng sổ mũi, đau đầu. Khi vào mũi, nó tạo ra sự tiết nhiều dịch và làm tan biến đi cảm giác đau nhức và nặng nề ở trên đỉnh đầu. Nước sắc hoa cũng dùng để tẩy.
Trong y học Vệ đà, lá cây so đũa được sử dụng để điều trị chứng động kinh và các nghiên cứu trên lâm sàng đã chứng minh tác dụng chống co giật của lá so đũa rất hiệu nghiệm.
Người dân Ấn Độ rất tín ngưỡng bông so đũa và xem đấy là đại diện cho thần Siva. Cũng theo y học Vệ đà, trái và hạt so đũa có tính nhuận tràng, kích thích trí tuệ, chống thiếu máu, viêm phế quản, sốt, đau, khát nước, làm giảm kích thước các khối u. 
Hoa dùng để chữa vàng da, viêm phế quản, bệnh gút, phù thũng và sốt cách nhật. Rễ dùng để chữa viêm nhiễm, giun sán, động kinh, ngứa, bệnh phong, bệnh quáng gà.
Nước ép từ lá ngậm trong miệng có tác dụng chống cảm cúm, viêm họng và điều trị lở lóet vòm họng, chữa đau nhức răng
Người Malaysia dùng lá so đũa nghiền nát để chữa bong gân và bầm tím.
Y học cổ truyền ở Philippines dùng so đũa vào việc điều trị viêm loét miệng và là thuốc bổ đắng kích thích tiêu hóa.
Tại Java, người ta dùng so đũa trị nấm và các rối loạn tiêu hóa ở trẻ con. 
Ở Thái Lan, vỏ thân được dùng ngoài trị xuất huyết và làm săn da.
Ở Campuchia, người ta  dùng vỏ cây so đũa chữa bệnh ghẻ ngứa, dùng nước ép lá khử giun, tăng lực, chữa vàng da, sốt, bệnh gút, bệnh phong cùi.

Các bài thuốc từ cây từ cây so đủa:

1-Thuốc bổ đắng dùng để khai vị: Vỏ cây so đũa thái mỏng 100g, ngâm trong 1 lít rượu 40otừ 15 ngày đến 1 tháng, ngày uống 15-30ml làm thuốc bổ đắng, khai vị. Bài thuốc này còn dùng chữa lỵ, ỉa chảy và viêm ruột ( theo bài thuốc dân gian Ấn Độ).
2-Trị cảm cúm: Hoa và lá giã nát, vắt nước nhỏ mũi trị cảm cúm (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
3-Trị bệnh tưa lưỡi: Vỏ thân tươi giã nát lấy nước hoặc nhựa vỏ cây dùng dưới dạng bột hay nước sắc bôi chữa tưa lưỡi (theo Y học cổ truyền Việt Nam).
4-Chữa nhức răng: Lấy vỏ cây so đũa vạc bỏ lớp da sù sì ở bên ngoài, rồi đem băm nhỏ, bỏ vào nồi hay ấm, thêm một chút nước, nấu sôi lên cho đặc được chừng nào hay chừng ấy. Mỗi lần cần, rót nửa chén cho thêm chút muối ngậm 3-4 lần trong ngày. Nếu răng sưng có mủ, răng lung lay nhức, ngậm chừng 2 ngày thì hết, mỗi lần ngậm lâu chừng 10 phút, nhổ bỏ rồi ngậm tiếp (theo kinh nghiệm nhân dân ở Sóc Trăng).
5-Trị sưng, nhức: Một số nơi dùng bột rễ cây trộn với nước đắp để trị sưng nhức (đặc biệt là chà xát lên nơi khớp viêm sưng), làm giảm đau và hạ sốt (theo DS Lê Kim Phụng).
6-Trị bong gân, bầm tím: Người Malaysia dùng lá so đũa nghiền nát để chữa bong gân và bầm tím.
                                                                                                      Kỹ sư Hồ Đình Hải