Cây sả


CÂY SẢ

Cây sả

Thân (giả) cây sả làm rau gia vị
-Tên gọi khác: Sả chanh, Cỏ sả, Cỏ chanh, Hương mao.
-Tên tiếng Anh: Lemon grass, lemongrass, oil grass, silky heads, citronella grass.
-Tên khoa học: Cymbopogon citratus (DC.) Stapf, 1906.
-Tên đồng nghĩa: Andropogon citratus.

Phân loại khoa học


Giới (Kingdom):
Thực vật (Plantae)
Ngành (Division):
Thực vật có hoa (Angiosperms)
Lớp (Class):
Thực vật 1 lá mầm (Monocots)
Phân lớp (Subclass):
Cây hạt kín (Commelinids).
Bộ (Order):
Hòa thảo (Poales)
Họ (Family):
Hòa thảo (Poaceae)
Phân họ (Subfamily):
Tộc (Tribe):
Phân tộc (Subtribe):
Andropogoninae
Chi (Genus):
Cymbopogon Spreng.(khoảng 55 loài)
Loài (Species):
Các loài quan trọng trong chi sả gồm:
1-Cymbopogon ambiguus : Sả chanh Úc (bản địa của Úc).
2-Cymbopogon citratus : Sả ta hay sả chanh Tàu (bản địa Trung Quốc).
3-Cymbopogon citriodora : Sả chanh Tây Ấn Độ (bản địa Ấn Độ).
4-Cymbopogon flexuosus: Sả Đông Ấn Độ (bản địa Ấn Độ).
5-Cymbopogon martinii : Sả Palmarosa.
6-Cymbopogon nardus : Cỏ Sả Thái (Ta-khrai Hom).
7-Cymbopogon Proximus : Sả Ai Cập.
8-Cymbopogon schoenanthus: Sả hoang mạc (miền Nam Châu Á và Bắc Phi).

Phân bố

Chi sả Cymbopogon (lemongrass) là một Chi với khoảng 55 loài (species) sả khác nhau, có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Cựu thế giới, thuộc Châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á, Đông Á và Australia. Trong đó loài phổ biến nhất ở Trung Quốc và vùng Đông Nam Châu Á là loài Sả ta hay Sả Tàu (Cymbopogon citratus) có nguồn gốc từ Trung Quốc và phân bố rộng rải ở các nước vùng Đông Á và Đông Nam Á.
Hiện nay nhiều loài sả cao sản được trồng ở khắp các nước nhiệt đới, và ôn đới ở cựu và tân thế giới, ngoài công dụng làm rau gia vị, cây sả còn được trồng để chiết xuất tinh dầu dùng trong thực phẩm, y học , thuốc Bảo vệ thực vật và mỹ phẩm.

Mô tả

-Thân: Sả là một loại cây thân thảo, thuộc họ Hòa thảo. Thường mọc thành từng bụi cao khoảng 1-1,5m (tùy theo dinh dưỡng trong đất nhiều hay ít hoặc cách chăm sóc tốt hay xấu). Thân có mầu trắng hoặc hơi tím, có nhiều đốt.
-Rể: Sả có kiểu rể chùm, mọc sâu vào đất, rể phát triển mạnh khi đất tơi, xốp.
-Lá: Lá hẹp dài, mép lá hơi nhám. Bẹ lá ôm chặt với nhau rất chắc, tạo thành một thân giả (mà ta thường gọi là củ). Sả đẻ chồi ở nách lá tạo thành nhánh như nhánh lúa. Với cách sinh sản này từ một nhánh trồng ban đầu về sau chúng sẽ sinh sôi ra nhiều nhánh tạo thành một bụi sả (giống như bụi lúa). Trong lá có nhiều tinh dầu, dược dùng làm nguyên liệu cất tinh dầu cùng với thân (bó bẹ lá).

Thành phần hóa học:

Các thành phần hóa học chính của tinh dầu sả là geraniol  citronellol có tác dụng sát trùng. Nó chứa 65-85%  thành phần citral và hoạt động như myrcene, có tác dụng kháng khuẩn và làm thuốc giảm đau citronellol và geranilol. 
Dầu sả được chưng cất và làm mát để tách dầu ra khỏi nước. Hydrosol là một sản phẩm của quá trình chưng cất, là nguyên liệu để tạo ra kem dưỡng da, dầu thơm dược phẩm và mỹ phẩm và đặc biệt dùng trong công nghệ sà phòng thơm có tính sát khuẩn.

Công dụng

a-Làm rau gia vị

Sả được dùng làm rau gia vị lâu đời ở các nước Châu Á. Sả được sử dụng rộng rãi như là một loại thảo dược trong món ăn châu Á. Nó có hương vị chanh tinh tế và có thể được dùng tươi (rất phổ biến) hoặc sấy khô và làm bột.
Ở Việt nam sả không thể thiếu trong các món mắm, món nấu với thịt, cả món ăn chay như tương, chao.
Ở Ấn Độ cây sả được sử dụng trong các loại trà , súp , và món cà ri . Nó cũng thích hợp cho gia cầm, cá, thịt bò, hải sản…
Sả thường được dùng như trà ở các nước Châu Phi như Togo  Cộng hòa Dân chủ Congo và các nước Mỹ Latinh như Mexico .

b-Tinh dầu sả dùng như hóa chất công nghiệp.

+Tinh dầu sả dùng như thuốc Bảo vệ thực vật
Ở các nước Đông Nam Á, dầu sả (Lemongrass oil) được sử dụng như là một loại thuốc trừ sâu và một chất bảo quản.Nghiên cứu cho thấy rằng sả dầu có đặc tính xua đuổi côn trùng và chống nấm.
Các thành phần hóa học chính của tinh dầu sả là geraniol  citronellol có tác dụng sát trùng, do đó tinh dầu sả được sử dụng trong xà phòng, nến và nhang muỗi để xua đuổi côn trùng như dán, kiến, ruồi, muỗi, rận, rệp…
Mặc dù dầu sả có khả năng xua đuổi côn trùng, tuy nhiên dầu sả có tác dụng hấp dẫn và được sử dụng như "mồi nhử" để thu hút ong mật. Vì một trong những chất pheromone từ ong chúa tiết ra giống như một chất có mùi của tinh dầu sả. Do đó trong kỹ thuật nuôi ong mật người ta dùng dầu sả như chất gọi đàn khi đàn ong mới được chuyển vùng.
Ở Việt nam cây sả được trồng khắp, nhân dân trồng cây sả quanh nhà, ngoài vườn, xung quanh nhà vệ sinh để xua đuổi ruồi, muỗi, dĩn, bọ chét vừa làm sạch môi trường, vừa có tác dụng phòng bệnh. Ngoài ra, tinh dầu sả còn khử mùi hôi trong công tác vệ sinh.
Kinh nghiệm dân gian Nam Bộ cho biết khi trồng sả rắn độc không dám đến gần để trú ẩn hay làm hang.
Ở Ấn Độ, theo kinh nghiệm dân gian, người ta dùng thân là sả đặt trên ngọn cây dầu cọ để xua đuổi các loài bọ cánh cứng hại cây cọ.
+Tinh dầu sả dùng trong công nghiệp
Tinh dầu sả được khai thác trong công nghiệp ngày càng phổ biến, chúng được dùng trong các sản phẩm dầu thơm y học, dầu thơm mỹ phẩm, sà phòng y tế, hương liệu thực phẩm…

c-Các bộ phận cây sả dùng làm thuốc

+Theo Đông y: Sả có tên là Hương mao, có vị the, cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng làm ra mồ hôi, sát khuẩn, chống viêm, hạ khí, thông tiểu, tiêu đờm để chữa đầy bụng, đái rắt, chân phù nề, chữa ho do cảm cúm...Toàn cây có mùi thơm đặc biệt. Ngoài được dùng làm rau ăn, gia vị (nhân dân thường dùng ăn sống hoặc tẩm ướp cho thơm các món ăn) cây sả còn là vị thuốc chữa bệnh rất hữu hiệu. Bộ phận dùng làm thuốc là lá, rễ sả dùng tươi, phơi hay sấy khô.
+Theo Tây y: Cây sả mới được nhập vào Châu Âu và Châu Mỹ trong thời gian gần đây và dược tính của nó nhanh chóng được nghiên cứu và khai thác.
Trong y học dân gian của Brazil cho là tinh dầu sả đã giải được lo âu, trầm cảm và là thuốc chống co giật, nhưng không ảnh hưởng đến sức khỏe con người. các nghiên cứu ở Brazil trong phòng thí nghiệm đã cho thấy tinh dầu sả có tác dụng chống oxy hóa, chống viêm. Citronellol là một thành phần tinh dầu từ các loài sả Cymbopogon citratus, C. winterianus  loài cây giống như sả (Lippia alba) được cho là có đặc tính chống huyết áp cao. Citronellol đã làm giảm huyết áp ở chuột nhờ vào tác động của tinh dầu sả vào cơ trơn làm giãn mạch. 
Trong một thử nghiệm khác kết luận tinh dầu sả (C. citratus) đã được sử dụng như một phương thuốc rẻ tiền để điều trị nấm miệng ở bệnh nhân HIV/AIDS.

Các bài thuốc từ cây sả

+Các bài thuốc từ lá sả:
Lá sả: (Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác để chữa bệnh).
1-Trị chứng đầy bụng:
Lá sả, vỏ bưởi, hồi hương, trạch tả, mộc thông, cỏ bấc, mỗi vị 10g; quế 5g; bồ hóng, diêm tiêu, mỗi vị 2g; xạ hương 0,05g. Tất cả sắc cách thủy với 200ml nước trong 15 - 30 phút, chia uống làm hai lần trong ngày. Nên uống sau bữa ăn trưa và tối. Uống trong 2 ngày.
Lưu ý: Trong quá trình điều trị không nên đồ nếp và muối mặn. (Theo Bác sĩ  Nguyễn Huyền-suckhoedoisong).
2-Thuốc xông giải cảm: 
Lá sả, lá bưởi, lá chanh, cúc tần, hương nhu hoặc lá bạch đàn (có thể thêm tía tô, bạc hà, kinh giới), mỗi thứ 50g, cho vào nồi, đậy kín, đun sôi trong 5-10 phút. Lấy ra, mở vung, trùm chăn xông hơi cho ra mồ hôi, lau khô, rồi uống một bát nước thuốc, đắp chăn, nằm nghỉ. (Theo Bác sĩ  Nguyễn Huyền-suckhoedoisong).
3-Chữa phù nề chân, đái rắt: 
Lá sả 100g, rễ cỏ xước, rễ cỏ tranh hoặc bông mã đề, mỗi thứ 50g. Tất cả rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Dùng 3 - 4 ngày. (Theo Bác sĩ  Nguyễn Huyền-suckhoedoisong).
4-Làm sạch gàu, trơn tóc: 
Lá sả, hương nhu, lá bưởi..., mỗi vị 30g, rửa sạch đun với nước, để ấm gội đầu. Mỗi tuần nên gội 2 lần. Nước gội đầu có vị sả không những làm thơm tóc, sạch gầu mà còn tránh những bệnh về tóc và da đầu. (Theo Bác sĩ  Nguyễn Huyền-suckhoedoisong).
+Các bài thuốc từ rể sả
Rễ sả: (Có thể dùng riêng hoặc phối hợp với vị thuốc khác).
5-Chữa tiêu chảy do lạnh bụng:
 Rễ sả 10g; củ gấu, vỏ rụt, mỗi vị 8g; vỏ quýt, hậu phác, mỗi vị 6g tất cả đem sắc với 3 bát nước còn 1 bát, uống khi thuốc còn ấm nên uống vào buổi sáng. Dùng trong 2 ngày. Hoặc rễ sả 10g, búp ổi 8g, củ riềng già 8g, thái nhỏ, sao qua, sắc với 200ml nước còn lại 50ml, uống sau bữa ăn. (Theo Bác sĩ  Nguyễn Huyền-suckhoedoisong).
6-Chữa ho do cảm cúm:
Rễ sả, trần bì, sinh khương, tô tử, mỗi vị 200g, tất cả giã nát, ngâm với rượu 40 độ (200ml rượu); bách bộ bỏ lõi, thái nhỏ, sao khô 400g; mạch môn bỏ lõi 200g; tang bạch bì tẩm mật, sao vàng 200g, 3 vị thuốc này đem sắc cô đặc lại thành 250ml cao lỏng. Trộn lẫn cao lỏng và rượu ngâm thuốc. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 5-10ml. Uống trong 3 ngày. (Theo Bác sĩ  Nguyễn Huyền-suckhoedoisong).

Kỹ thuật trồng sả

Sả được trồng khá phổ biến trong nhân dân mang tính "tự cung, tự cấp". Nếu trồng theo hình thức này thì chỉ cần cuốc vài nhát cuốc, cho một ít phân chuồng mục xuống hố rồi trồng nhánh sả lên, lấp đất nén chặt, tưới nước giữ ẩm là xong, không cần chăm sóc gì đặc biệt lắm. Nhưng nếu muốn trồng nhiều trên diện rộng để kinh doanh thì cũng phải nắm được một số khâu kỹ thuật cơ bản sau đây:
- Cày bừa phơi đất cho khô, xới nhỏ, lên liếp rộng khoảng 1,2-1,4m, cao 15-20 cm. Đảm bảo thoát nước tốt trong mùa mưa vì cây sả rất sợ bị úng nước. Trên mỗi liếp rạch hai hàng rãnh song song với chiều dài liếp, mỗi hàng cách nhau khoảng 0,8-1 m. Cứ mỗi công rẫy (1.000 m2) bón lót khoảng 1,5-2 tấn phân chuồng đã được ủ mục trộn đều với khoảng 20-30 kg Supe lân, bằng cách rải phân xuống rãnh vừa rạch, trộn phân vào đất rồi đặt nhánh sả giống dựa theo thành rãnh,  mỗi  nhánh  cách nhau khoảng 25-30 cm (mỗi cây giống là một nhánh sả đã được  cắt  bỏ bớt  lá ở phần trên, tách bỏ những bẹ lá già phía ngoài và cắt ngắn bớt rễ), sau khi đặt nhánh giống lấp đất sâu khoảng 10 cm. Hàng ngày tưới nước giữ ẩm cho cây.
- Sau khi trồng một vài tuần là nhánh giống bén rễ ra lá mới. Sau khi ra lá mới khoảng 2-3 tuần thì bón thúc phân lần 1, với lượng 7-10 kg urê cho một công rẫy, bón bằng cách rải phân xuống gốc rồi làm cỏ vun nhẹ. Sau trồng khoảng 2 tháng kết hợp với làm cỏ vun gốc thì bón thúc phân lần 2, với lượng 7-10 kg NPK (loại 20-20-15).
Nếu trồng sả để lấy củ ăn thì sau khi trồng khoảng 4-5 tháng trở đi là có thể tỉa thu họach những nhánh lớn. Sau mỗi lần thu họach kết hợp bón thêm phân và làm cỏ vun gốc cho những nhánh nhỏ tiếp tục phát triển. Nếu trồng để lấy tinh dầu thì sau khi trồng khoảng một năm tiến hành thu cắt lá, chỉ để lại một đoạn gốc dài khoảng 10 cm, bón phân tưới nước cho cây ra lá mới.
Tài liệu tham khảo
5-http://www.vnnavi.com/news/congdungcuacaysa.html
                                                                                          Kỹ sư Hồ Đình Hải

Xem video: Công dụng của cây sả





Nấm tràm


NẤM TRÀM

Nấm tràm mọc hoang

 
Nấm tràm xào tôm
-Tên gọi khác: Nấm rừng tràm.
-Tên tiếng Anh: Bitter bolete
-Tên khoa học: Tylopilus felleus (Bull.) P.Karst. (1881)
-Tên đồng nghĩa: Boletus felleus Bull., B. alutarius Fr.

Phân loại khoa học


Giới (Kingdom):
Nấm (Fungi)
Ngành (Division):
Nấm đảm (Basidiomycota)
Lớp (Class):
Nấm hương (Agaricomycetes)
Bộ (Order):
Họ (Family):
Chi (Genus):
Loài (Species):
Tylopilus felleus
Loài nấm tràm (Tylopilus felleus) trải qua lịch sử tên gọi như sau:
-Boletus felleus Bull. (1788).
-Boletus alutarius  (Năm 1815).
-Boletus felleus var. roseus Persoon (1825).
-Boletus fuscescens P. Karst. (1859).
-Tylopilus felleus (Bull.) P.Karst. (1881)
-Tylopilus felleus var. alutarius (Fr.) P. Karst. (1882).
-Tylopilus alutarius (Fr.) Rea (1922).

Phân bố

Chi Tylopilus là một Chi nấm lớn trong Họ Boletaceae với khoảng 75 loài tách ra từ Chi Boletus (khoảng 100 loài). Chúng phân bố khắp các vùng nhiệt đới và ôn đới trên thế giới.
Trong tự nhiên tìm thấy loài này phân bố trên vùng Bắc Bán cầu thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Âu và Châu Mỹ. Mặc dù có trồng ở Nam bán cầu nhưng chúng tỏ ra không thích nghi và hạn chế phát triển.
Ở Việt Nam loài nấm tràm mọc hoang trên cây gỗ mục ở các rừng tràm thuộc Đồng Tháp Mười, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và là món ăn đặc sản của đảo Phú Quốc.

Mô tả

Nấm tràm chỉ mọc sau những cơn mưa đầu mùa trong các rừng tràm. Lá và vỏ của cây tràm rơi rụng thành từng lớp của mùa trước đã bắt đầu biến thành lớp mùn là nơi để nấm tràm phát triển. Meo nấm được ấp ủ trong lớp mùn đất, sau loạt mưa đầu mùa, những chiếc nấm tròn nhỏ cỡ đầu ngón tay út bắt đầu vươn mình ra khỏi lớp vỏ và lá tràm bảo vệ nó từ mùa trước. Nấm tràm bắt đầu rộ dần và kéo dài khoảng hơn tháng thì hết mùa.
Sau một, hai cơn mưa đầu mùa, những người sống bằng nghề hái nấm đã bắt đầu chuẩn bị thu hoạch nấm tràm. Họ vào rừng, thăm những khu vực để xem nơi nào nấm đã bắt đầu phát triển, độ một tuần sau là có thể đến nơi có nấm để thu hoạch. Thường họ đi cả gia đình, cặm cụi hái cả ngày đến khi đầy giỏ mới ra về.
Về hình dạng, nấm tràm có đặc điểm như sau:
-Mũ nấm: Rộng 5-15 cm, nắp có màu xám vàng đến nâu nhạt. Lúc còn non có dạng  sương mai nhưng khi trưởng thành trở nên mịn. Phía dưới mũ mang các lổ bào tử màu hồng.
-Cuống nấm: Dài 4-20 cm, dày 1-3 cm, thường cong. Được bao phủ bởi một lớp màu nâu thô.
-Thịt nấm: Khi còn non thịt nấm màu trắng hoặc màu kem, phía dưới mũ có màu hồng do các bào tử phát triển. Khi nấm già có màu đỏ, nâu xậm.

Thành phần hóa học

Nấm tràm ăn được nhưng có vị đắng rất khó ăn. Chỉ có những người sành điệu biệt thu hoạch và chế biến thì nấm tràm mới trở thành món ăn hấp dẫn.

Công dụng

a-Nấm tràm dùng làm rau

+Nấm tràm chế biến các món xào
Nấm tràm sau khi hái về, gọt bỏ lớp vỏ dính đất dưới chân, rửa sạch, luộc chín rồi ngâm nước lạnh hoặc trước khi chế biến thì phi tỏi với dầu ăn cho thơm, cho nấm vào xào qua, nêm muối là có thể cất vào tủ lạnh dùng dần.
Khi trời nắng đem nấm đi phơi khô để được lâu hơn. Nấm tràm đắng. Thường thì nấm khô ăn không thơm và không ngon bằng nấm tươi. Muốn nấm bớt đắng thì nên rửa cho thật kỹ. Nấm khô phải ngâm, rửa nhiều lần cho sạch cát, sau đó luộc vài nước rồi mới chế biến. Nấm tươi cũng nên luộc nhiều lần.Khi mang ra nấu sẽ không đắng nhiều nữa về sau lại rất ngọt và mát. Chính cái vị đắng đặc trưng tạo nên món ngon khó quên của món nấm tràm đặc biệt nơi đây. Các nhà hàng ở Phú Quốc thường trữ nấm trong tủ đông quanh năm để bán cho khách phương xa ra thăm đảo như một món ăn độc đáo của người dân bản địa. Các chợ ở huyện đảo nơi nào cũng bán cả thúng lớn nấm cho khách mua.
+Nấm tràm nấu canh, nấu lẫu
Món nấm tràm tươi hoặc khô dùng để nấu canh hay nấu lẫu là món ăn đặc sản của miền Tây Nam Bộ và vùng U minh, Phú Quốc.
Món nấu truyền thống là nấm tràm nấu súp thịt gà và nấm tràm nấu với hải sản.
-Nấm tràm nấu súp gà: Gà luộc vừa chín tới, cho một mớ nấm tươi mới hái đã chuẩn bị sẵn vào. Nồi nước luộc gà trở thành món xúp nấm. Những chiếc nấm vừa chín cho vào miệng cảm giác giòn, xốp, càng nhai càng thấy vị đắng nhân nhẩn cứ lan dần. Húp miếng nước xúp ngọt lừ mùi vị của nấm và thịt gà, lúc này vị của nấm mới thấy rõ, đắng nhưng thật thanh. Chính cái vị đắng này mà nhiều người đâm ghiền món nấm tràm. Họ ăn nấm nhưng không uống nước, để sau buổi ăn mới bày thêm bàn trà nhâm nhi như để tận hưởng thêm hương vị có một không hai của nấm tràm.
-Nấm tràm nấu canh, lẫu hải sản: Ở Phú Quốc, nấm tràm được nấu với tôm, mực là một món ăn phổ thông, nhà nào tới mùa cũng có. Nhưng nếu chịu khó một tí, kiếm cá rựa hoặc cá nhồng lấy thịt làm chả cá viên nấu với nấm thì mới tuyệt chiêu. Khi chuẩn bị ăn, đập vào nồi nước sôi mấy quả trứng vịt như người miền Tây hay ăn chè đậu xanh cho trứng vịt, ăn kiểu này cũng là một gu đặc sắc của món nấm tràm.

b-Nấm tràm dùng làm thuốc

Các tài liệu trong nước không thấy đề cập đến vị thuốc từ nấm tràm. Chỉ biết món ăn có nấm tràm sẽ làm ngon miệng và mát cơ thể.
Tuy nhiên theo Công ty First-nature.com ở Wales, Anh Quốc cho biết nấm tràm có các tính chất dược liệu như sau:
1-Tác dụng kháng viêm
Nấm tràm (T. felleus) đông khô thử nghiệm ở chuột cho thấy ức chế đáng kể tình trạng viêm nhiểm ở liều tiêm dịch chiết trên 50 mg/kg (dưới da), trong khi dùng đường uống không có kết quả đáng kể ( Kohlmunzer et al , 1977 ).
2-Tác dụng chống khối u và tế bào ung thư
Dung dịch polysaccharide chiết xuất từ sợi nấm tràm (T. felleus) và cấy trong phúc mạc của chuột bạch ở một liều 300 mg/kg ức chế sự tăng trưởng của dòng tế bào khối u Sarcoma 180  mô thể rắn ung thư Ehrlich khỏi 100% (Ohtsuka et al , 1973).
Một nghiên cứu khác ở chuột đánh giá hoạt động kháng u tylopilan, một liên kết β-(1→3) (1→6) glucan được phân lập từ nấm tràm (T. felleus), tiêm vào cơ thể chuột đã gây nhiểm ung thư với liều liều tiêm duy nhất (25 hoặc 50 mg tylopilan/ mỗi con chuột) làm kéo dài thời gian tồn tại trung bình của những con chuột được tiêm các tế bào khối u từ 17,5 đến 22,8 ngày so với những con chuột mang tế bào ung thư nhưng không được sử lý dịch nâm (Grzbek et al , 1994).
Nguồn: First Nature.com-Wales, UK: http://www.first-nature.com/news.php
Tài liệu tham khảo
7-http://www.plantguide.org/boletus-felleus.html
                                                                                                 Kỹ sư Hồ Đình Hải
Xem video: Món cháo nấm tràm



Nấm mỡ


NẤM MỠ

Nấm mỡ mọc hoang dại

Nấm mỡ trồng
-Tên gọi khác: Nấm trắng, nấm khuy.
-Tên tiếng Anh: the common mushroom, button mushroom,white mushroom,  table mushroom, champignon mushroom, crimini mushroom.
-Tên khoa học: Agaricus bisporus (J.E.Lange) Emil J. Imbach.
-Tên đồng nghĩa: Psalliota bispora.
-Các loài tương cận:
 A. campestris (Nấm ăn được);
 A. bitorquis (Nấm ăn được);
 A. xanthodermus (Nấm độc);
 A. aurantioviolaceus (Nấm độc).

Phân loại khoa học


Giới (Kingdom):
Nấm (Fungi)
Ngành (Phylum):
Nấm Đảm (Basidiomycota)
Lớp (Class):
Nấm tản (Agaricomycetes)
Phân lớp (Subclass):
Bộ (Order):
Họ (Family):
Chi (Genus):
Loài (Species):
Agaricus bisporus

Loài nấm mỡ (Agaricus bisporus) có lịch sử phân loại phức tạp . Nó lần đầu tiên được mô tả bằng tiếng Anh vào năm 1871 bởi nhà thực vật học người Anh Mordecai Cubitt Cooke (1825-1914) với tên Agaricus campestris var. hortensis . Sau đó nhà nấm học Đan Mạch Jakob Emanuel Lange (1864-1941) đổi tên thành Psalliota hortensis var bispora vào năm 1926. Năm 1938, nó đã được nâng lên cấp loài với tên là Psalliota bispora. Tên hiện tại Agaricus bisporus , được gọi chính thức từ năm 1946.
Nấm mỡ còn được dịch từ tên tiếng Anh sang tiếng Việt là nấm nút, nấm nút trắng, nấm bảng, nấm nâu Ytali…

Phân bố

Nấm mỡ (Agaricus bisporus) là một loài nấm ăn được có nguồn gốc từ vùng đồng cỏ  Châu Âu  Bắc Mỹ . Trong tự nhiên loài này mọc hoang trên các đồng cỏ có nhiều hữu cơ trong mùa mưa.
Từ năm 1990 loài nấm này được trồng tại hơn 70 quốc gia với sản lượng thương phẩm hơn 1,5 triệu tấn và giá trị hơn 2 tỷ USD. Đây là một trong những loài nấm trồng phổ biến nhất và tiêu thụ rộng rãi trên thế giới.
Ở Việt Nam nấm mỡ được các Công ty du nhập và trồng nhiều sau năm 2000.

Mô tả

Nấm mỡ hoang dại có mũ nấm màu xám-nâu nhạt, đường kính mũ nấm 5-10 cm. Thân nấm hình trụ cao 5-6 cm. Với các chủng nấm trồng được lựa chọn có màu sáng hơn.
-Mũ nấm: Mũ nấm khởi đầu có hình một cái khuy áo với mũ vun tròn, màu trắng và đôi khi có những vẩy nhỏ, có hình bán cầu, thịt dầy, màu trắng sáng. Lúc đầu lồi, sau đó phẳng dần, đường kính mũ nấm 5-10 cm. Phía dưới mũ nấm là các vách sản sinh bào tử hẹp, bào tử ban đầu màu hồng sau đó chuyển thành màu đỏ và cuối cùng chuyển thành màu sôcola. Không nên ăn nấm già khi bào tử đã chuyển sang màu đậm.
Màu sắc mũ phổ biến là màu trắng, mặt đưới mũ có màng che các phiến, khi già màng che bị rách, các phiến sẽ chuyển từ trắng sang đen, đó cũng là màu của bào tử. Tai trưởng thành xoè ra hình tán dù.
-Bào tử: Hình trứng gần tròn, kích thước 4-7,5 x 4-5.5μm. Màu nâu sôcola.
-Cuống nấm: Cuống rắn chắc, đặc tròn và ngắn.Cao 3 - 6cm cao và dầy 1,5-2cm.
Đây là loài nấm trồng, ít gặp sống nơi hoang dại. Tuy nhiên khu vực gần các trang trại trồng nấm, dạng mọc hoang dại ngày càng phổ biến.
-Sinh thái: nấm mỡ có nguồn gốc ôn đới. Nhiệt độ thích hợp trong giai đoạn hệ sợi phát triển là 24-25oC, giai đoạn hình thành cây nấm là 16-18oC. Độ ẩm trong cơ chất từ 55-65%. Độ ẩm không khí ≥ 80%. Độ pH = 6 - 7. Ánh sáng: không cần kể cả khi ra quả thể. Độ thông thoáng: vừa phải.

Thành phần hóa học

Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) trong 100 gam nấm mỡ có có các thành phần dinh dưỡng như sau:

94 kJ (22 kcal)
3,28 g
1,65 g
1,0 g
Chất béo
0,34 g
3,09 g
92,43 g
0,081 mg (7%)
0,402 mg (34%)
3,607 mg (24%)
Pantothenic acid (B 5 )
1,497 mg (30%)
2,1 mg (3%)
Sắt
0,50 mg (4%)

Công dụng

a- Nấm mỡ dùng như một loại rau cao cấp

-Nấm mỡ được dùng để xào: Nấm mỡ được dùng để xào với thịt, điển hình như:
1-Nấm mỡ xào đùi ếch: Nấm mỡ 200 g, đùi ếch 100 g, hành, gừng tươi, tỏi, hạt tiêu, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Đùi ếch bỏ da, rửa sạch, rán non; nấm mỡ bổ đôi, chần qua nước sôi, để ráo nước. Phi hành tỏi cho thơm rồi xào lẫn đùi ếch với nấm, chế đủ gia vị, ăn nóng. Công dụng: Ích vị kiện tỳ, lý khí hóa đàm, thanh nhiệt lợi niệu.
2-Nấm mỡ xào tôm: Nấm mỡ 200 g, tôm tươi 500 g, cà rốt, măng củ, hành, gừng tươi, dầu thực vật, bột đao và gia vị vừa đủ. Nấm rửa sạch, khía hình chữ thập trên mũ, chần qua nước sôi, để ráo nước; tôm bóc vỏ, bỏ đầu, rửa sạch, ướp nước gừng và gia vị; cà rốt và măng củ rửa sạch, thái mỏng. Phi hành cho thơm rồi xào lẫn tôm với cà rốt và măng trước, kế đó cho nấm vào, đun to lửa một lát là được, chế đủ gia vị. Công dụng: Bổ thận tráng dương, kiện tỳ ích vị, hóa đàm tiêu thực.
3-Nấm mỡ xào đậu phụ, măng:
Nấm mỡ 150 g, đậu phụ 300 g, măng củ 100 g, nước dùng (nước luộc gà hoặc nước ninh sườn) 200 ml, hành, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Nấm rửa sạch, bổ đôi, chần qua nước sôi; măng thái mỏng; đậu phụ xắt miếng nhỏ.
Tất cả cho vào nồi, chế đủ gia vị, đổ nước dùng vào đun sôi chừng 10 phút là được. Công dụng: Kiện tỳ ích vị, sinh tân nhuận táo, thanh nhiệt giải độc.
4-Nấm mỡ xào lòng lợn:
Nấm mỡ 350 g, lòng non lợn 500 g, hành, tỏi, gừng tươi, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Lòng non làm sạch, cắt đoạn chừng 2 cm, gừng thái phiến, hai thứ cho vào nồi áp suất đun trong 2 phút rồi lấy ra, để ráo nước; nấm mỡ rửa sạch, chần qua nước sôi.
Phi hành tỏi cho thơm rồi xào nấm với lòng non, chế đủ gia vị, ăn nóng. Công dụng: Kiện vị tiêu thực, hóa đàm, thanh tràng, chỉ huyết.
-Nấm mỡ được dùng trong các món nấu, lẫu:
Trong các món nấu như canh, súp có món nấm mỡ rất hợp khẩu vị cho người Châu Á, Châu Phi cũng như Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Úc.
Nói chung nấm mỡ là loại thực phẩm quốc tế, được nhiều nước ưa chuộng.

b-Nấm mỡ dùng như vị thuốc

+Theo Đông y: Nấm mỡ vị ngọt, tính mát, có công dụng bổ tỳ ích khí, nhuận phế hoá đàm, tiêu thực lý khí, rất thích hợp cho những người chán ăn mệt mỏi do tỳ vị hư yếu, sản phụ thiếu sữa, viêm phế quản mạn tính, viêm gan mạn tính, hội chứng suy giảm bạch cầu…
Sách “Bản thảo cương mục” viết: Nấm mỡ có tác dụng “ích tràng vị, hoá đàm lý khí”. Sách Y học nhập môn thì cho rằng nấm mỡ có khả năng “duyệt thần, khai vị, chỉ tả, chỉ ẩu” (làm cho tinh thần sảng khoái, kích thích tiêu hoá, cầm ỉa chảy và cầm nôn).
+Theo Tây y: Nấm mỡ có những giá trị dược liệu được Tây y xác định:
1-Nấm mỡ (A. bisporus) chứa natri , kali , phốt pho , axit linoleic liên hợp  chất chống oxy hóa, Protocatechuic axit pyrocatechol được tìm thấy.
2-Nấm mỡ cũng đã được chứng minh là có thể tăng cường hệ thống miễn dịch. Nghiên cứu trong ống nghiệm đã chứng minh nấm tăng cường chức năng tạo thành tế bào đuôi gai (tế bào miễn dịch)…
Cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan cũng đã từng điều trị bằng nấm mỡ Blazei để chiến thắng căn bệnh ung thư da và qua sự kiện đó, hiệu quả dược học của nấm này đã được cả thế giới biết đến. (nguồn: Việt Báo).
Trong năm 2009 một thí nghiệm nghiên cứu 2.018 phụ nữ bệnh cho thấy nhóm có ăn nấm mỡ tươi mỗi ngày có tỷ lệ 64% không có khả năng phát triển bệnh ung thư vú và nhóm có ăn nấm mỡ hàng ngày kết hợp với uống nước trà xanh hường xuyên có 90% không có khả năng phát triển bệnh ung thư vú.
3-Theo dược lý học hiện đại, nấm mỡ có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn và trực khuẩn coli. Các nhà khoa học Nhật Bản đã chiết xuất từ nấm mỡ ra một chất, được gọi là PS – K, có công dụng kháng ung thư, nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, khảo nghiệm trên lâm sàng đối với ung thư vú và ung thư da thấy có hiệu quả khá tốt.
4-Trong vài năm gần đây, người ta cũng đã nhận thấy việc dùng nấm mỡ làm thức ăn hàng ngày hoặc thường xuyên uống nước sắc loại nấm này có thể trị liệu viêm gan mạn tính và chứng giảm thiểu bạch cầu, hiệu quả đặc biệt nâng cao khi dùng kết hợp với ngũ vị tử, có thể đạt tới 73%. Ngoài ra, nấm mỡ còn có tác dụng làm giảm đường máu, hạ nồng độ cholesterol trong huyết thanh và cải thiện chức năng tuyến tuỵ. Bởi vậy, nấm mỡ là một trong những thực phẩm lý tưởng dành cho những người bị bệnh tim mạch, đái đường, ung thư và bệnh lý tuyến tuỵ.
5-Một số nghiên cứu đã tiết lộ rằng Nấm mỡ (A. bisporus) - cùng với một số nấm ăn được khác - có chứa một lượng nhỏ các chất dẫn xuất gây ung thư hydrazine , bao gồm agaritine  gyromitrin. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng lưu ý khi nấu chín, các hợp chất đã được giảm đáng kể.
Tài liệu tham khảo
4-http://www.fransdijkstra.nl/diss/chapter2.htm
                                                                                                Kỹ sư Hồ Đình Hải

Xem video: Trồng và chăm sóc nấm mỡ