Chi Bần(danh pháp khoa học:Sonneratia) là một Chi củathực vật có hoatronghọ Bằng lăng(Lythraceae).
Trước đây Sonneratia được đặt tronghọ
Bần(Sonneratiaceae), bao gồm cảSonneratiavàchi Phay(Duabanga), nhưng hiện nay hai
chi này được đặt trong các phân họ chứa chính chúng củahọ Bằng lăng(Lythraceae). Tên khoa
học của chi này còn làBlattidoJames Edward Smithđặt, nhưngSonneratiacó độ ưu tiên cao hơn. Tên gọi chung
của chúng trong tiếng Việt làbần. Chúng là các loài cây thân gỗ sinh
sống trong các cánh rừng tràm đước ven biển.
ChiSonneratiachứa khoảng 14-16 loài, trong đó loài quan trọng là cây Bần chua (Sonneratia caseolaris(L.)Engl.) và cây Bần ổi (Sonneratia ovata).
Phân
bố
Cây bần là loài cây rừng ngập mặn nhiệt đới, có nguyên sản ở
vùng Nam Á và Đông Nam Á, được phát tán rộng khắp Châu Á , Châu Phi và Châu Đại
dương.
Hiện nay các nước có nhiều cây bần mọc hoang và được trồng
như: Châu Phi, Sri- Lanka, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia,Philippin,
Indonesia, Timor , Đảo Hải Nam (Trung Quôc), Đông Bắc Australia và một số nước ở Châu Đại dương như Niughnia, New Guinea, Solomon Islands,
New Hebrides…(Little, 1983).
Ở Việt Nam
cây bần mọc hoang và được trồng ở rừng ngập mặn ven biển từ Bắc vào Nam nơi có
nhiều bùn và bải bồi. Ở Miền Bắc cây bần mọc thành rừng gần như thuần loại ven
bờ biển và vùng cửa sông như ở Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh. Ở Miền Nam cây bần là
thành phần chính yếu của các rừng ngập mặn tự nhiên ven biển và chúng mọc dày
đặt ven sông rạch ở ĐBSCL.
Loài cây này ưa sáng và mọc được nơi có nước mặn hay nước lợ
ít nhất là một giai trong năm. Sự phong phú của quần thụ này tùy theo mức nước
lợ và chế độ thủy triều.
Bần là cây tiên phong để phát triển rừng ngập măn ven biển
và các bải bồi ven sông.
Cây bần phát triển kém ở những vùng có nước ngọt
quanh năm so với vùng nước lợ và nước măn.
Mô tả
-Thân: Bần chua thuộc loài thân gổ đại mộc, có nhiều cành. Cây gỗ
cao 10-15m, có khi cao tới25m. Cành non
màu đỏ, 4 cạnh, có đốt phình to. Gổ xốp, bở, vỏ thân chứa nhiều tanin.
-Rể: Rể gốc to, khỏe, mọc sâu trong đất bùn. Từ rể mọc ra nhiều rễ
thở (bất hay Cạt bần (Nam Bộ) thành từng khóm quanh gốc.
-Lá: Lá đơn, mọc đối, dày, giòn, hơi mọng nước, hình bầu dục
hoặc trái xoan ngược hay trái xoan thuôn, thon hẹp thành cuống ở góc, cụt hay
tròn ở chóp, dai, dài 5-10cm, rộng 35-45mm. Cuống và một phần gân chính màu đỏ,
gân giữa nổi rõ ở cả 2 mặt, cuống dài 0,5 - 1,5cm.
-Hoa: Cụm hoa ở đầu cành, có 2-3 hoa, rộng 5cm, có cuống hoa
ngắn.
Đài hợp ở gốc, có 6
thùy dày và dai, mặt ngoài màu lục, mặt trong màu tím hồng. Cánh tràng 6, màu
trắng đục, hình dải, thuôn về hai đầu. Nhị có chỉ hình sợi, bao phấn hình thận.
Bầu hình cầu dẹt, vòi dài, đầu hơi tròn.
-Quả: Quả mọng hơi nạc, khi còn non cứng, dòn, khi chín quả mọng,
thịt quả mềm, ruột chứa nhiều hạt. Quả có đường kính 5-10 cm, cao 2-3 cm, gốc
có thùy đài xòe ra.
-Hạt: Hạt nhiều, dẹt.
Khi chín quả rụng và trôi nổi theo nước thủy triều, hạt sống
lâu và phát tán mạnh trên các bải bồi. Muốn trồng cây bần không cần gieo hạt
(mặc dù hạt quả bần chí khi gieo có thể mọc mầm trên 90%). Chỉ cần nhổ những
cây bần con mọc sắn trong tự nhiên (rất nhiều) để trồng.
Thành
phần hóa học
+Trong thân:
-Vỏ thân và gỗ chứa archin (emodin), archinin (chrysophanic
acid) và archicin. Trong quả có chất màu, archin và archicin.
-Vỏ thân chứa nhiều tanin (10-20%) có thể dùng thuộc da.
-Trong vỏ thân có chất Emodin và axit chrysophanic có thể làm
các chất màu trong thực phẩm và thuốc thô (Perry, 1980).
-Gỗ bần xốp, tỷ lệ bột giấy thu hồi khoảng 52,7% (trong đó có
8,5% lignin, 17,6% pentosan có màu nâu).
-Ngoài ra trong gổ và vỏ thân cây bần có có hai chất archin
(C15H10O5) và archinin (C15H14O12)
có thể khai thác làm chất màu thực phẩm (CSIR,1976).
+Trong quả bần chín có:
-Có hàm
lượng pectin 11% ở dạng chất trong suốt (ZMB).
-Có 2
chất flavonoïdes chống oxy hóa được phân lập là :lutéoline
và lutéoline 7-O-glucoside.
Công
dụng
a-Các bộ
phận của cây bần được dùng làm rau:
-Lá non và búp hoa cây bần được dùng làm rau
sống:
Nhiều
nước trong vùng Đông Nam Á dùng lá, búp non của cây bần để làm rau ăn sống (do
có vị chát nên ít được ưa chuộng), nên loại rau này chỉ được ăn trong những
trường hợp bất đắc dĩ khi đang sống giữa rừng bần.
-Quả bần non (bần chát) và quả bần già (bần
chua) đượng dùng làm rau:
Quả bần
chát và bần chua được xắt mỏng để dùng làm rau ghém, dùng riêng hoặc trộn với
các loại rau “tập tàn khác. Đặc biệt là ăn với mắm cá sặc, mắm cá linh, mắm
ruốc…
-Quả bần chua và bần chín được dùng để ăn
chơi:
Do có vị
chua đầm nên trẻ con và cả người lớn rất thích ăn quả bần già (bần chua) và quả
bần chín. Đặc biệt là quý cô thanh nữ và quý bà đang “ốm nghén” rất thích ăn
bần với muối hạt.
Rau bần chua
Bần chua và mắm sống
-Quả bần chín được làm nước chấm:
Quả bần
chín rục dầm trong đĩa nước mắm, sẽ có món nước mắm bần vừa ngon và vừa hấp
dẫn, cách chế biến rất đơn giả, chỉ cầm dầm nát quả bần trong nước mắm, thêm
gia vị như bột ngọt, ớt, đường… là xong.
-Quả bần chín được làm chất chua để nấu canh
chua, nấu lẫu chua:
Dùng quả
bần chín trụng trong nước sôi, lọc bỏ hạt, sẽ có chất chua để nấu canh chua,
lẫu chua từ quả bần, ăn rất hấp dẫn.
-Quả bần chín được lên men làm giấm bần (Crabapple
vinegar):
Ở Philippines
nông dân ven biển dùng quả bần chí để lên men ủ thành một loại giấm chua từ qu3
bần (Crabapple vinegar) để dùng nấu ăn trong gia đình.
Nguồn: PHILIPPINE MEDICINAL PLANTS
-Quả bần chín được
chế thành chất phụ gia Thực phẩm:
Một chất thạch trong suốt có thể được chế biến từ trái bần
có chứa chất pectine để làm chất kết dính.
Nguồn: PHILIPPINE MEDICINAL PLANTS
b-Các bộ phận của cây bần được dùng làm thuốc:
Theo Đông y: Quả bần có vị chua của phó mát, tính mát; có tác dụng tiêu
viêm, giảm đau. Lá có vị chát, có tác dụng cầm máu.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Người ta lấy quả chua ăn
sống hay nấu canh cá. Cũng được sử dụng làm thuốc đắp vào chỗ viêm tấy vì bong
gân.
Ở Ấn Độ, người ta dùng dịch quả lên men làm thuốc ngăn chặn
của chứng xuất huyết.
Dùng lá giã ra, thêm tí muối, làm thuốc đắp tốt các vết
thương đụng giập và vết thương nhẹ. (Perry, 1980).
Ở Malaixia, người ta giã lá lẫn với cơm làm thuốc đắp chữa
bí tiểu tiện. (Perry, 1980).
Ở Miến Điện, người dân
dùng trái bần nghiền nát thành thuốc dán hay bột nhảo đắp lên gọi là thuốc dán
Đông Phương, trộn với muối, đắp lên những vết cắt và những vết bầm (ứ máu) tím.(Perry, 1980).
Ở Mả Lai, dùng bần chín
để trịnhững ký sinh trùng trong
ruột, giun, sán. Ăn bần chín để
trị hovà dùng lá bần non nghiền
nát để trị các bệnh thiếu máu giảm tiểu cầu (hématurie) và bệnh đậu mùa variole.
(Perry, 1980).
Trái bần chín có thể dùngsốnghaychín.
Nước ép bần lên men đã có thể dùng đểcầm máu.
Đồng thời hoa bần đâm nát, vắt nước điều trị bệnh tiểu ra máu. (Perry, 1980).
Ở Philippines đã được ghi nhận là lá và quả bần non đâm nhuyễn có tính cầm
máu, trị bong
gân, chổ sưng, u enflures và ăn quả hay lá bần trừ được giun, sán.
Nguồn: PHILIPPINE MEDICINAL PLANTS
c-Các công dụng khác:
Cây Bần còn có những công dụng khác như rễ thở (bất) dùng
làm nút chai. Gỗ bở chỉ dùng đóng đồ nhỏ, làm củi đun, làm bột giấy. Cành đã
rụng lá dùng và chất chà nhử cá và làm củi đun.
Bột giấy chế biết từ gổ bần thích hợp trong việc chế biến
loại giấy kraft.
Các nghiên cứu sinh khối rừng ngập mặn ở Philippines cho biết sản lượng khai
thác trắng cây bần qua luân kỳ 10 năm được 157 tấn chất khô/ha, trong đó gổ bần
chiếm 74,4 tấn/ha và sản lượng bột giấy thu hồi trên 30 tấn/ha.
Nghiên cứu rừng ngập mặn ở thái lan cho biết thu hoạch gổ
bần từ cành tái sinh hàng năm có thể đạt 20 tấn gổ/ha/năm và tỷ bột giấy thu
được trên 50%.
Thiết nghĩ ở Việt Nam nên nghiên cứu phát triển và
thâm canh cây bần ở rừng ngập mặn và khai thác gổ bần tái sinh để làm bột giấy
theo kinh nghiệm các nước khác ở Đông Nam Á!
Hình ảnh cây bần trong ca dao Nam Bộ
Nổi bật ở vùng đồng bằng châu thổ Cửu Long là sự có mặt của
hình ảnh cây bần, một loại cây rất gần gũi với bà con Nam Bộ.
Bà con Nam
bộ đã dành cho cây bần một tâm tình ưu ái. Trong các câu ca dao, họ mượn hình
ảnh cây bần để thổ lộ tấm lòng của mình với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau,
từ đó tạo nên nhận thức thẩm mỹ khá mới lạ về loài cây này.
“Muốn ăn mắm sặc bần
chua
Chờ mùa nước nổi ăn
cho đã thèm”.
Xuất phát từ cái tên nghe quá đói khổ- “bần” mà người Nam bộ đã đặt
câu đố về nó:
“Giống chi toàn là
giống đực
Thiếu tứ bề cam cực
chung thân ?”.
Từ kiếp bình sinh “thiếu tứ bề” ấy mà tác giả bình dân đã
mượn trái bần để nói lên số phận hẩm hiu của người phụ nữ:
“Thân em như trái
bần trôi
Sóng dập gió dồi
biết tắp vào đâu?”.
Là thế đấy, cây bần mang số kiếp thật hẩm hiu, bị phũ phàng:
“Cây bần kia hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm”.
Nhiều lúc cây bần trở nên mạt hạn, tầm thường trong thể hiện
của người bình dân:
“Cảm thương ô dước,
bời lời
Cha sao mẹ sến, dựa
nơi gốc bần”.
Cây bần còn là cái để người ta so sánh sự sang hèn:
“Không thương em
hổng có cần
Trầm hương khó kiếm
chớ đước bần thiếu chi”.
Tuy nhiên, người Nam bộ không chỉ nhìn cây bần dưới
con mắt bi quan như thế. Bằng cái nhìn hào sảng và lối sống phóng khoáng, lạc
quan, cây bần còn là điểm tựa cho tình yêu đôi lứa:
“Làm thơ anh dán
đọt bần
Dán cho hai họ
Nguyễn Trần gặp nhau”.
Hy vọng để rồi khi tình duyên bị ngăn trở, bần lại là nơi
cha mẹ phạt vạ con cái:
“Phụ mẫu đánh anh
quặt quà quặt quại,
Đem anh treo tại
nhánh bần.
Rũi đứt dây mà rớt
xuống,
Anh cũng lần mò
kiếm em.”.
Cái tình của người dân Nam bộ là thế, yêu “xả láng”, đánh
chết cũng thương. Cây bần còn là biểu vật của sự nhớ thương, là mật hiệu của
tình yêu:
“Chiều chiều xuống
bến ba lần
Trông em không thấy
thấy bần xơ rơ”.
Hay
“Lẻ đôi em chịu lẻ
đôi
Hoa tàn em cũng
đợi, bần trôi em cũng chờ”.
Nhưng nhiều lúc những cô Hai, anh Sáu lại nghi ngại, đặt vấn
đề về chuyện cưới xin:
“Neo ghe vô dựa gốc
bần
Em thương anh nói
vậy chớ biết mình đặng gần hay không”.
Hay khi đã không thành duyên nợ thì:
“Bần gie, bần liệt,
diệc đau chờ mồi
Anh với em duyên nợ
hết rồi
Đi tìm chỗ khác
đừng ngồi kế em”.
Không chỉ vu vơ trách móc thế thôi, với cách nói như tát
nước, người Nam Bộ cũng mắng nhiếc:
Chi Nghệ(Curcuma) là mộtChilớn trong Họ Gừng (Zingiberaceae). Chi này được Linnaeus mô tả và
đặt tên vào năm 1753, cho đến nay đã phát hiện khoảng 130 loài. Trong đó có
khoảng 80 loài được xác định gồm các loài nghệ và kể cả loài hoa Tulip Thái Lan
(Siam Tulip).
Ở Việt Nam có khoảng 18 loài nghệ khác nhau. Đó là:
Theo tên gọi dân gian thì ở Việt Nam có hai loài Nghệ trồng là nghệ nếp và nghệ tẻ. Có nhiều ở Quảng Bình, Quảng Nam, Đắc Nông...và được trồng phổ biến trong cả nước.
Thực ra trong các giống Nghệ trồng tùy địa phương thuộc
nhiều loài khác nhau. Trong đó có loài Nghệ trồng phổ biến là nghệ vàng, trong
vị thuốc còn gọi làUất kim, Khương hoàng. Có tên khoa học là Curcuma longaLinn.
hayC.domesticaValeton.
Một số tài liệu cho đây là hai loài
nghệ khác nhau.
Phân
bố
Chi Nghệ có nguồn gốc vùng nhiệt đới Châu Á gió mùa, thích
nghi ở nhiệt độ 20-30oC, là loài cây hàng niên và rể củ có thể tái sinh chồi
mới trong nhiều năm.
Ở Việt Nam có khoảng 18 loài nghệ khác nhau.
Nhiều loài nghệ trong số này đã dược nghiên cứu ở Việt Nam.
Một số loài tuy có tên trong sách phân loại nhưng hiện nay không tìm thấy,
ngược lại một số loài nghệ khác được tìm thấy nhưng chưa được định danh.
Sau đây là danh sách các loài nghệ quan trọng ở Việt Nam đã được xác
định và vùng phân bố của chúng:
1-Curcuma
aeruginosa: Nghệ xanh (một số nơi ở
miền Bắc hay gọi nhầm là nghệ đen). Có thân rễ có màu xanh đen đồng. Giữa gân
lá có sọc đỏ. Nhiều hình ảnh trên mạng cũng như nhiều người lầm tưởng loài nghệ
này với một loài nghệ khác có thân rễ màu xanh tím.Curcuma aeruginosađược sử dụng để trị đau bụng đi ngoài
rất tốt.
5-Curcuma elataRoxb.: Mì tinh rừng, có ở các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam.
6-Curcuma
gracillima: nghệ mảnh.
7-Curcuma
kwangsiensis: Nghệ Quảng Tây, được
trồng phổ biến ở Miền bắc.
8-Curcuma longaLinn. hayC.domesticaValeton: Nghệ vàng, uất kim, khương
hoàng. Một số tài liệu cho đây là hai loài nghệ khác nhau. Ở Việt nam có nhiều ở
Quảng Bình, Quảng Nam,
Đắc nông...
10.Curcuma pierreanaGagnepain: Bình tinh chét có ở Huế, Quảng Trị, Quảng Bình,
Quảng Nam (Việt Nam).Curcuma pierreanacó thân rễ rất nhỏ, cụm hoa màu cam,
cách môi vàng mọc giữa thân có lá. Tinh dầu thân rễ loài nghệ này có chứa
borneol. Tại miền Trung, trước đây loài nghệ này được dùng như một nguồn tinh
bột với tên bột bình tinh (khác với bột một loài củ khác còn được gọi là hoàng
tinh).
Trước đây, người ta dựa vào đặc điểm hình thái thực vật để
phân biệt các loài nghệ. Ngày nay, ngoài đặc điểm thực vật, có thể dựa vào
thành phần hóa học để giúp phân biệt các loài nghệ. Theo tài liệu của Phạm
Hoàng Hộ thì tại Việt Nam
còn có một loài nghệ được gọi làCurcuma
rubensRoxb. Loài nghệ này có
nạc củ màu ngà, lá có sọc tía, thân lá có màu tía. Cụm hoa có các chót lá hoa
màu tím. Tại Tây Nguyên có một loài nghệ được mô tả như loài nghệ trên. Tuy
nhiên màu nạc củ của loài nghệ này thay đổi có thể có màu tím như khoai tía
hoặc có màu ngà, tùy theo sự phát triển.
Loài Nghệ trồng (Curcuma
longaLinn.) được
trồng nhiều ở Nam Á, Đông Nam Á, Trung Quốc và Trung Đôngđã được sử dụng từ lâu, đặc
biệt tại Ấn Độ với món cơm cari.
Loài Nghệ nhà được trồng phổ biến trên cả nước Việt nam đó
chính là loài Curcuma longaLinn. hayC.domesticaValeton: có các tên gọi khác là Nghệ
vàng, uất kim, khương hoàng.
Mô tả
Cây nghệ thuộc loại cây thân thảo, tán lá cao khoảng 70 -100
cm.
-Thân:Thân rễ(thường gọi củ Nghệ) hình trụ hay hình
bầu dục, phân nhánh, đường kính 1,5-2 cm; có màu vàng tươi, có nhiều đốt, tại
các đốt có những vảy khô do lá biến đổi thành.
-Lá: Lá đơn, mọc từ thân rễ. Phiến lá hình bầu dục, kích thước
22- 40 x 12 -15 cm, đầu nhọn, bìa phiến nguyên, hơi uốn lượn; màu xanh lục đậm
ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới. Gân lá hình lông chim, gân chính nổi rõ ở mặt
dưới, các gân phụ hơi lồi ở mặt trên. Bẹ lá hình lòng máng, dài 18- 28 cm, ôm
sát vào nhau tạo thành một thân khí sinh giả có màu xanh, trên bẹ lá có các
đường gân dọc song song. Lưỡi nhỏ là một màng mỏng màu trắng, cao 2-3 mm.
-Hoa: Cụm hoa mọc từ giữa các
lá lên thành hình nón thưa, cánh hoa ngoài màu xanh lục vàng nhạt, chia thành
ba thùy.
Thành
phần hóa học
-Theo Wikipedia, bách khoa toàn thư mở
Củ nghệ vàng chứa khoảng 5 %tinh dầuvà đến 5 %curcumin, một dạng
polyphenol. Curcumin là hoạt chất chính trong củ nghệ, với kí hiệu C.I. 75300,
hay Natural Yellow 3. Tên hóa học của nó là(1E,6E)-1,7-bis(4-hydroxy-3-methoxyphenyl)-1,6-heptadien-3,5-dion.
Trong cây Nhệ vàng (Curcuma longa) có chứa: nước 13,1%; protein
6,3%; chất béo 5,1%; chất vô cơ 3,5%; sợi 2,6%; carbonhydrat 69,4% và caroten
tính theo vitamin A (tinh dầu Nghệ chứa: d. phelandren 1%, d. sabinen 0,6%;
cineol 1%; borneol l0,5%; zingi; beren 25%; sesquiterpen (tuemeron) 58%...
Các chất màu phenolic trong củ Nghệ chủ yếu là dẫn chất của
diarylheptan, 3 chất chủ yếu là curcumin, bis (4-hydroxy-cinnamoyl)- methan và
4-hydroxycinamoyl feruloyl methan.
Công
dụng
Các bộ
phận của cây nghệ có các công dụng như sau:
a-Đọt và
lá non của cây nghệ dùng làm rau:
- Đọt và lá non của cây nghệ dùng làm rau
sống:
Do có
mùi cay nhẹ và thơm nên đọt và lá non của cây nghệ đường dùng làm rau sống ăn
trực tiếp. Trong rổ rau tập tàng của người Nam Bộ thường có lá nghệ. Lá nghệ
sống thường được dùng để ăn kèm với các món nương, hon, xào lăn và mắm đồng.
- Đọt và lá non của cây nghệ dùng làm rau xào:
Lá Nghệ
xắt nhuyển có tác dụng khử mùi tanh và tăng hương vị, kích hích ăn ngon, dược
dùng để chế biến các món ăn ngon như Ếch, Nhái, Thố linh, Lòng heo, Hải sản,
Thịt bò…
b- Củ nghệ
dùng làm ra gia vị:
-Củ nghệ tươi được dàng xào, nấu với các món ăn để khử mùi
tanh và đồng thời kích thích ngon miệng.
-Bộ củ nghệ được sấy khô, để dự trữ lâu, vừ làm chất tạo màu
(vàng) thiên nhiên vừa có tình kích thích tiêu hóa. Cụ thể dùng để nấu với các
món thịt xào lăn, hon, cà ri và trộn vào bột cho có màu vàng và vị thơm để làm
bánh khọt, bánh xèo…
-Nhiều Công ty đã dùng bột nghệ để chế biến hổn hợp gia vị
dùng trong nấu nướng như “Bột Cà Ri”, “Ngũ vị hưng”, bột “Cà ri nị”…dược tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu khắp tế giới.
c-Các bộ phận cây Nghệ (nói chung) đực dùng là thuốc:
Sau đây là tính dược của các bộ phận từ cây nghệ:
+Theo Đông y:
Củ nghệ có vị đắng, cay, mùi thơm hắc, tính ấm, có tác dụng
hành khí phá ứ, thông kinh chỉ thống, giúp tiêu mủ, lên da non, tác dụng thông
mật, làm tăng sự bài tiết mật của tế bào gan, phá cholesterol trong máu. Tinh
dầu nghệ có tác dụng diệt nấm ngoài da và kháng khuẩn.
-Trong dược học, nghệ dùng để chữa kinh nguyệt không đều, bế
kinh, ứ máu, vùng ngực bụng khí trướng đau nhức, đau liên sườn dưới khó thở,
sau khi đẻ máu xấu không ra, kết hòn cục trong bụng, bị đòn ngã tổn thương ứ
huyết, dạ dày viêm loét, ung nhọt, ghẻ lở, phong thấp, tay chân đau nhức.
-Theo Trung tâm Nghiên cứu dược liệu Đại học Y-Dược TP HCM
đã xác định:
Thân rễ Nghệ dùng chữa kinh nguyệt không đều, bế kinh ứ máu,
vùng ngực bụng trướng, đau tức, dạ dày viêm loét, ung nhọt, ghẻ lở, phong thấp,
tay chân đau nhức, vàng da.
-Ở Trung Quốc, Nghệ dùng làm thuốc kích thích, bổ, giảm đau,
cầm máu và tăng cường chuyển hóa, trị loét dạ dày tá tràng…
-Ở các nước Đông Nam Á, Nghệ được xem là có tác dụng bổ dạ
dày, gây trung tiện, bổ máu, chữa vàng da và bệnh gan khác. Tác dụng bảo vệ tế
bào gan là do hợp chất curcumin có trong thân rễ Nghệ.
Nguồn: Trung tân Nghiên cứu dược liệu- Đại Học Y-Dược TP HCM.
Nhiều công trình nghiên cứu thử nghiệm ở các nước trên thế
giới đã khẳng định từ lâu rằng hoạt chất Curcumin có tác dụng huỷ diệt tế bào
ung thư vào loại mạnh. Tại Mỹ, Đài Loan, người ta đã tiến hành thử lâm sàng
dùng Curcumin điều trị ung thư và kết luận:
-Curcumin có thể kìm hãm sự phát tác của tế bào ung thư da,
dạ dày, ruột, vòm họng, dạ con, bàng quang.
-Curcumin còn là chất bổ cho dạ dày, ruột, gan, mật, lọc
máu, làm sạch máu, điều trị vết thương, chống viêm khớp, dị ứng, nấm, chống vi
khuẩn có hiệu lực.
Các nghiên cứu ở Việt Nam:
Từ nǎm 1993, các nhà khoa học thuộc ĐH Harvarrd (Mỹ) đã công
bố 3 chất có tác dụng kìm hãm tế bào HIV-1, HIV-1-RT và 1 trong 3 chất đó là
Curcumin.
Tuy nhiên, theo TSKH Lê Thế Trung là người để tâm nhiều đến
việc nghiên cứu cây nghệ vàng và cũng chính ông đã gợi ý cho TS Phạm Đình Tỵ và
nhóm nghiên cứu tập trung khai thác cây nghệ vàng.
-Vấn đề ở chỗ đi tìm Curcumin ở đâu trong nguồn dược diệu có
sẵn ở VN và công nghệ chiết xuất Curcumin thế nào? Làm sao để tạo ra chế phẩm
ứng dụng hiệu quả và phù hợp với điều kiện của VN?
Bắt đầu từ nǎm 1990 nhưng đến nǎm 1998, công trình nghiên
cứu "Chiết xuất hoạt chất Curcumin từ nghệ vàng" của TS Phạm Đình Tỵ
và nhóm nghiên cứu mới được nghiệm thu với đánh giá cao của các nhà chuyên môn.
Tuy vậy, các nhà khoa học cũng gặp nhiều khó khǎn trong việc
thực hiện tách curcumin trong điều kiện không phải xí nghiệp dược liệu nào
trong nước cũng đủ hiểu biết và dám làm. Hơn thế, phải nghiên cứu để có một dây
chuyền lắp ráp phù hợp với điều kiện hiện nay cho ra một chế phẩm có giá thành
vừa phải...
TS Phạm Đình Tỵ cho biết: Có nhiều tài liệu khoa học trên
thế giới nói về công nghệ chiết tách Curcumin nhưng đó hoàn toàn là lý thuyết,
còn vấn đề cốt lõi thì không một tài liệu nào công bố. Đó là điều bình thường
trong khoa học. Chúng tôi đã phải tìm cách thay đổi thành phần hỗn hợp dung môi
để có được độ phân cực khác nhau thích hợp cho việc chiết xuất Curtcumin. Dây
chuyền chiết tách được lắp ráp trong nước với mục tiêu tiết kiệm tối đa chi phí
để cho ra chế phẩm người nghèo cũng có thể sử dụng được.
Theo số liệu nghiên cứu củ nghệ vàng là 1 trong 14 (đến nay
là 18-TG) loại nghệ được tìm thấy và rất sẵn có ở VN. Nhưng trong nghệ bao gồm
các tạp chất khác nhau mà Curcumin chỉ chiếm một phần rất nhỏ là 0,3%.
Nhóm nghiên cứu của TS Phạm Đình Tỵ đã tạo ra 2 chế
phẩmTNV-999 và TNV-999-AC gọi chung là bột đường tinh nghệ chứa Curcumin độ
tinh khiết 92,5%. Phối hợp với Học viện quân y, nhóm nghiên cứu đã thử thành
công độ an toàn và hiệu lực của Curcumin. Bột đường tinh nghệ đã được đang ký
chất lượng tại Sở y tế HN làm thực phẩm chữa bệnh. Bước đầu đã có nhiều bệnh
nhân bị ung thư, bị mắc bệnh viêm đại tràng, dạ dày, thiểu nǎng gan,mật ǎn tinh
bột nghệ này có chuyển biến tích cực rất rõ rệt. Một số người sau khi điều trị
bằng tinh nghệ, khối u ác tính đã bị thu hẹp, thể trạng tốt hơn...
Theo ý kiến của TSKH Lê Thế Trung thì, chế phẩm trên mới chỉ
là thực phẩm chữa bệnh. Giai đoạn tiếp theo, các nhà khoa học cần phải nghiên
cứu để tách Curcumin nguyên chất, và bào chế thành thuốc với chỉ định liều
lượng hợp lý để trị bệnh. Muốn vậy, trước mắt phải trải qua giai đoạn thử
nghiệm lâm sàng hoạt chất này.
Tuy nhiên thành công bước đầu cũng mở ra một hy vọng mới.
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu dược liệu- Đại Học Y-Dược TP HCM.
Theo y dược học hiện đại, củ nghệ vàng (nghệ trồng) có tên
Hán Việt là Khương hoàng (KH), trong KH có chất curcumin (0,3%), tinh dầu (1 -
5%), trong đó có 24% cacbua terpenic chủ yếu là zinggiberen và 65%
cetoes-quiterpenic, các chất tarmeron. Ngoài ra còn có chất béo, tinh bột,
canxi, oxalat. Chất curcumin có tác dụng kích thích tế bào gan tiết mật và tăng
co bóp túi mật, tống mật, phá cholesterol ở thành mạch. Tinh dầu có tác dụng
diệt vi sinh vật, tiêu viêm, ức chế kết tập tiểu cầu, khử gốc tự do chống oxy
hóa. Gần đây tìm thấy thêm nhiều chất trong nghệ có tác dụng đối với một số
bệnh ung thư, AIDS.
Nguồn: theo www.suckhoedoisong.vn-Được
đăng trên trang Web:
Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào curcumin, một số chất curcuminoid
trích từ thân rễ Cây Nghệ (C. longa), đã được chứng minh để điều
chỉnh một loạt các mục tiêu phân tử. Đặc biệt, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng
một số curcuminoids được liên kết với các hoạt động chống oxy hóa và chống viêm.
Curcumin được thể hiện là bảo vệ thần kinh trong ống nghiệm và được bảo vệ
chống lại các tổn thương ethanol do não trong cơ thể theo đường uống, một hiệu
ứng mà có liên quan đến việc giảm nồng độ peroxide lipid và tăng cường
glutathione trong não chuột.
Cumarin có tác dụng bảo vệ thần kinh động vật có bệnh Parkinson (hay còn gọi làPD-là một bệnh rối loạn thoái hoá của hệ thần kinh
trung ương làm suy yếu khả năng vận động, lời nói, và các chức năng khác),
một hiệu ứng liên quan đến các đặc tính chống oxy hóa của nó.
Một số hợp chất từ Cây Nghệ, bao gồm curcumin,
demethoxycurcumin, bisdemethoxycurcumin và calebin A (và một số tổng hợp chất
tương tự), đã được chứng minh để bảo vệ tốt tế bào bị β-amyloid xâm phạm trong
ống nghiệm, hoạt động này cũng được cho là do tác dụng chống oxy hóa.
Chất Cumarin được xem là cầu nối kỵ nước được thâm nhập vào
hàng rào của mạch máu não làm hạn chế các nhóm phenolic ưa nước hấp thu amyloid-β
vào não nên có tác dụng giải độc rượu, cồn vào nã. Hay nói cách khác, chất
Cumarin trong củ nghệ có tính giải độc rượu!.
Curcumin cũng được báo cáo là chất chống viêm và đã được đề
xuất để điều chỉnh quá trình sinh tổng hợp eicosanoid và COX-1, COX-2 và
lipoxygenase (lipoxygenase) là những chất chống viêm nội sinh nhưng có có hại
cho thận.
Cơ chế chống viêm của các hợp chất curcuminoid có trong củ
nghệ được kết luận là có ưu điểm hơn bất kỳ chất chống viêm của cá loại thuốc
tân dược hiện đại do đó chất curcumin trong bột nghệ đang được khai thác và ly
trích để bào chế thuốc trị viêm loát dạ
dày.
Theo y dược học hiện đại, củ nghệ vàng (KH) có chất curcumin
(0,3%), tinh dầu (1 - 5%), trong đó có 24% cacbua terpenic chủ yếu là zinggiberen
và 65% cetoes-quiterpenic, các chất tarmeron. Ngoài ra còn có chất béo, tinh
bột, canxi, oxalat. Chất curcumin có tác dụng kích thích tế bào gan tiết mật và
tăng co bóp túi mật, tống mật, phá cholesterol ở thành mạch. Tinh dầu có tác
dụng diệt vi sinh vật, tiêu viêm, ức chế kết tập tiểu cầu, khử gốc tự do chống
oxy hóa. Gần đây tìm thấy thêm nhiều chất trong nghệ có tác dụng đối với một số
bệnh ung thư, AIDS.
+Kết luận: Sự gặp gở giữa Đông Y và Tây Y về tính năng dược liệu của bột
nghệ:
Tính dược của bộ nghệ đã được Đông Y phát hiện và ứng dụng
cách nay hàng ngàn năm. Y học cổ truyền Ayurvedic Ayurvedic ở Ấn Độ dược viết bằng
tiếng Phạn cách nay 5000 năm và Y học Trung Quốc cổ đại cách nay khoảng 3000 đã
để lại những bài thuốc quý từ củ Nghệ. Từ thực tế các thống kê y học cho thấy người Ấ Độ có tỷ lệ người bị bệnh đường ruột thấp nhất thế giới do tập quán hàng ngày ăn món Cà ri. Chính bột nghệ trong Cà ri tác dụng chống viêm loét ở đường ruột.
Các bài thuốc từ củ và rể của cây Nghệ cũng đã ảnh hưởng đến
y học cổ truyền thực hành ở các vùng lân cận như Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam.
Kinh nghiệm dân gian Việt Nam dùng bột nghệ pha với mật ong
để trị bệnh viêm loát dạ dày được các nhà thuốc Đông Y chế biến thành Cao đơn
hoàn tán như “Vị Linh đơn”, “Tràng vị Linh đơn” cũng rất hiệu nghiệm.
Thuốc đau dạ dày của Tân dược hiện nay chính là các chất
chiết xuất từ bột nghệ có hàm lượng Curcumin cao đang thịnh hành và được người
bệnh chấp nhận lựa chọn nhiều nhất trên thế hiện nay. Các tinh chất Curcuminoid liều cao đang được chế biến thành thuốc để trị ung thư dạ dày, tá tràng, ung thư vú... Đông Y chuyên nghiệp khai thác rể cây nghệ (Uất kim) là chủ yếu và Tây dược khai thác củ nghệ (Khuất hoàng) là chính, vì từ củ nghệ mới có nhiều lượng Curcuminoid để chiết rút. Lưu ý! Ăn nghệ có tác dụng chống viêm nhiểm và ngừa bệnh ung thư. Khi bị bệnh ung thư phải dùng biệt dược chiếc xuất từ cây nghệ chứ không phải ăn củ nghệ mà trị được, và hàm lượng các hơp chất curcuminoid trong củ nghệ rất thấp (chỉ khoảng 0,3%), nên một liều thuốc trị ung thư từ nghệ dùng hàng ngày tương đương với 2-3 kg củ nghệ. Do đó người bệnh ung thư không thể ăn nghệ để thay thuốc.
Các bài thuốc từ cây Nghệ:
Lưu ý rằng có nhiều loài cây nghệ khác nhau, nên các bài
thuốc từ cây nghệ cũng phân biệt loài cây nghệ nào:
a-Các bài thuốc từ cây Nghệ vàng (nghệ trồng).
Lưu ý bộ phận dùng của cây nghệ có tác dụng khác nhau và vị
thuốc cũng có tên khác nhau:
-Củ nghệ vàng (nghệ trồng) có tên vị thuốc là Khương hoàng
(viết tắt là KH).
-Rể của cây nghệ vàng (phần rể hay củ non) có tên vị thuốc
là Uất kim (UK).
-Sự khác biệt giữa KH và UK: cả hai đều trị khí trong huyết.
Nhưng KH thiên đi ra ngoài, chữa đau do khí trệ huyết ứ phần ngoài cơ thể. Còn UK thiên đi lên
thượng tiêu chữa vùng ngực đau và khí bế tắc. Theo tính dược thì KH ôn nên được
chỉ định phong hàn bế kinh, chậm kinh. Còn UK tính hàn nên được chỉ định trị
phong nhiệt, trị loét dạ dày, xuất huyết dạ dày. Gần đây, Trung Quốc dùng UK để phòng
chống cholesterol máu cao. Một số nước như Việt Nam thì dùng KH hạ cholesterol máu
cao.
+Các bài thuốc từ Củ
nghệ trồng (Khương hoàng):
Củ nghệ có tên Hán-Việt là Khương hoàng (viết tắt là KH).
KH có vị cay đắng, tính ôn (có sách ghi tâm tỳ hoặc tâm phế
can). Tác dụng hành khí phá huyết. Chủ trị phong tý, cánh tay đau, ngã chấn
thương bầm tím ứ huyết, mụn nhọt. Cấm dùng KH đối với người không có khí mạnh
tà thực, không có uất trệ. Thận trọng khi phối hợp với các vị ôn nhiệt, hoạt
huyết.
SáchĐông y bảo giámcho rằng khương hoàng có tác dụng phá
huyết, hành khí, thông kinh, chỉ thống (giảm đau), chủ trị bụng chướng đầy,
cánh tay đau, bế kinh, sau đẻ đau bụng do ứ trệ, vấp ngã, chấn thương, ung
thũng...
Sách Nhật hoa tử bản
thảocho khương hoàng có tác dụng trị huyết cục, nhọt, sưng,
thông kinh nguyệt, vấp ngã máu ứ, tiêu sưng độc, tiêu cơm... (theo BSQuang Minh,Sức Khoẻ & Đời Sống).
Một số phương thuốc dùng nghệ trong Nam dược thần
hiệu (Hải Thượng Lãng Ông-Lê Hữu Trác):
1-Phòng và chữa các bệnh sau đẻ: Dùng 1 củ nghệ nướng, nhai ăn, uống với rượu hay đồng tiện
(nước tiểu trẻ em khỏe mạnh).
2-Chữa lên cơn hen, đờm kéo lên tắc
nghẹt cổ, khó thở: Dùng nghệ 1 lạng,
giã nát, hòa với đồng tiện, vắt lấy nước cốt uống
3-Chữa trẻ em đái ra máu hay bệnh
lậu đái rắt: Dùng nghệ và hành sắc
uống.
4-Trị chứng điên cuồng, tức bực lo
sợ: Nghệ khô 250 g, phèn chua 100 g,
tán nhỏ, viên với hồ bằng hạt đậu, uống mỗi lần 50 viên với nước chín (có thể
uống mỗi lần 4-8 g), ngày uống 2 lần.
5-Chữa đau trong lỗ tai: Mài nghệ rỏ vào
6-Chữa trị lở, lòi dom: Mài nghệ bôi vào.
+Một số bài thuốc
khác từ củ nghệ vàng
7-Phụ nữ có thai bị ra máu, đau bụng(dọa sẩy): có thể lấy nghệ vàng, đương quy, thục địa, ngải
cứu, lộc giác giao (sừng hươu) mỗi vị 1 lạng, sao khô vàng, tán nhỏ, mỗi lần
uống 4 đồng cân (khoảng 40 g). Dùng gừng tươi 3 lát, táo 3 quả, sắc với nước,
uống trước bữa ăn khi thuốc còn ấm. (theo BSQuang Minh,Sức Khoẻ & Đời Sống).
8-Điều kinh, bế kinh, vàng da sau khi sinh:nghệ vàng, củ gấu, quả quất còn xanh, cả 3 thứ sấy khô tán
bột với mật ong làm thành viên uống hằng ngàỵ(theo suckhoevadoisong.net).
9-Viêm âm đạo:bột nghệ vàng
30g, phèn chua 20g, hàn the 20g, sắc với 500ml nước, lọc bỏ bã dùng thụt rửa âm
đạo. (theo suckhoevadoisong.net).
10-Cao dán mụn nhọt:nghệ vàng 60g, củ ráy 80g, nhựa thông 40g, sáp ong 40g, dầu
vừng 80g. Tất cả giã nhuyễn, trộn đều, phết lên giấy làm cao dán. (theo suckhoevadoisong.net).
12-Làm mờ sẹo:Cắt lát củ nghệ
xát lên sẹo đang lên da non. (theo suckhoevadoisong.net).
13-Vết thương phần mềm:bột nghệ 30g, bột rau má 60g, phèn chua 10g. Tất cả tán
nhuyễn dùng băng bó vết thương. (theo suckhoevadoisong.net).
13-Viêm loét dạ dày tá tràng đại tràng:bột nghệ 10g, bạch truật 10g uống hằng ngàỵ(theo suckhoevadoisong.net).
14-Trị Vàng
da: nghệ, nghệ đen, cỏ cú, quả quất non
tán bột, trộn với mật ong làm viên uống. (kinh nghiệm dân gian).
15-Cao dán
nhọt: nghệ 60g, củ ráy 80g, nhựa thông
40g, sáp ong 40g, dầu vừng 80g. Gọt sạch ráy, giã nhuyễn, nấu nhừ với nhựa,
dầu, sáp, nghệ rồi phết vào giấy mỏng dùng dán lên mụn nhọt. (kinh nghiệm dân
gian).
16-Thuốc
rửa âm đạo (bài thuốc ở An Giang): Bột
nghệ vàng (nghệ xà cừ) 30g, phèn chua phi 20g, hàn the 20g, nước 500ml. Nấu sôi
15 phút rồi lọc sạch sau đó nấu sôi lại một lần nữa. Để cho hỗn hợp trên nguội
rồi rửa âm đạo. (kinh nghiệm dân gian).
+Các bài thuốc từ rể
cây nghệ trồng (Uất kim):
Uất kim (UK)
có tính hàn, vị cay đắng, vào kinh can đởm. Có sách ghi vào tâm phế can và vì
thế có tên UK
(giải uất ở phế - phế thuộc kim).
UK có tác dụng hành khí giải uất, lương huyết phá ứ, chữa tích
tụ, trưng hà. Chủ trị đau vùng ngực, bụng, chữa thổ huyết, chảy máu cam, đi
tiểu ra máu.
UK có hai loại: xuân UK
hành huyết hơn lý khí, còn quảng UK thì ngược lại nghĩa là lý khí
hơn hành huyết. Cấm dùng UK
đối với người âm hư không có ứ trệ.
Thành phần hóa học của UK có tinh dầu curcumion I, II, III
tinh bột, nhựa, chất béo, chất vô cơ, canxi, oxalat.
Để chữa bệnh viêm loét dạ dày và hành tá tràng. Đông y
dùng UK,
còn bên Tây y dùng KH.
b-Các bài thuốc từ cây Nghệ đen (nghệ xanh).
Nghệ đen: Còn gọi là nghệ
xanh, nghệ tím, nga truật… Tên khoa học là Curcuma
zedoaria. Củ chứa tinh dầu sesquiterpen, zingiberen, cineol.
Theo Đông y, nghệ đen vị đắng, cay, thơm, hăng, hơi ấm, có
công năng phá tích, tán kết, hành khí, chỉ thống, thông kinh lạc, khai vị.
Nghệ đen được dùng làm thuốc trong các trường hợp:
1- Đau bụng lạnh từng cơn, tích trệ:nghệ đen 40g, mộc hương 20g. Tất cả tán bột trộn đều. Mỗi
lần uống 2g với dấm loãng. (theo suckhoevadoisong.net).
2- Bế kinh, hành kinh máu vón cục:nghệ đen 15g, ích mẫu 15g. Sắc uống hằng ngàỵ(theo suckhoevadoisong.net).
c-Các bài thuốc từ cây Nghệ trắng (ngải trắng).
Nghệ trắng:Còn gọi là ngải
trắng, ngải mọi, ngải sải.
Tên khoa học là Curcuma
aromatica, là cây mọc hoang và trồng lấy củ thơm làm gia vị. Thân rễ chứa tinh
dầu và chất đắng curcumin.
Theo Đông y, nghệ trắng vị cay tính mát, hành khí, giải uất,
lương huyết, lợi mật, trừ vàng da. Nghệ trắng được dùng làm thuốc trong chữa
các chứng bệnh:
1- Chữa ho gà, thấp khớp:giã 10g nghệ trắng, tẩm rượu, cho vào lọ kín, hấp cách thủy
trong 1 giờ, chắt lấy nước uống trong ngày. (theo suckhoevadoisong.net).
2- Đau bụng kinh, bổ máu sau khi sinh:nghệ trắng 20g, lá nhọ nồi 20g, củ gấu 20g, lá mần tưới 20g,
tô mộc 16g, ngải cứu 12g. Tất cả sao vàng sắc với 400ml nước còn khoảng 100ml,
chia 2 lần uống trong ngàỵ (theo suckhoevadoisong.net).
3- Phong thấp, bong gân, sai khớp:củ nghệ trắng 10g, rễ ô đầu 10g, nhân hạt gấc 10g. Tất cả
giã nhỏ, ngâm rượu với mật gấu hay mật trăn sau 1 tháng là được, dùng xoa bóp. (theo
suckhoevadoisong.net).
4- Chảy máu cam, nôn ra máu, đái ra máu, viêm gan:nghệ trắng, địa long (giun đất), đơn bì, chi tử mỗi vị 10g.
Sắc uống ngày 1 thang. (theo suckhoevadoisong.net).